Từ trái qua phải, các ông: Ba Nhơn, Ba Hùng, Tư Liếu bên cầu Cua Chùa, do nhóm “Tam gia cầu treo” xây dựng năm 1999.

Ông Tư Liếu cùng chúng tôi ra bờ kênh Mặc Cần Dưng, giới thiệu chiếc cầu treo bắc qua dòng kênh.

Đây là chiếc cầu đầu tiên do nhóm thợ nông thôn gồm ba thợ cầu “tự phát” đều là nông dân ở xã An Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang, có chung một danh thiếp “Tam gia cầu treo”: Nguyễn Văn Hùng (Ba Hùng), Phạm Văn Liếu (Tư Liếu) và Thạch Văn Nhơn (Ba Nhơn). Hơn 10 năm qua, họ đã bắc được gần 170 chiếc cầu treo và cầu sắt ở nhiều vùng nông thôn trên khắp vùng dọc ngang kênh rạch miền Đông Nam bộ này.

Các ông không lấy nghề thợ cầu để kinh doanh, làm giàu, mà  chỉ làm cầu tình nghĩa, vừa làm vừa vận động các nhà hảo tâm, các hội từ thiện, các doanh nghiệp góp tiền. Rồi vận động thanh niên, dân quân đóng góp công sức với ước vọng giúp bà con đi lại thuận lợi, an toàn.

Ông Tư Liếu khoe với tôi:

- Hiện nay, chúng tôi đang thi công cầu treo Vàm Kênh Bảy, bắc qua sông Chắc Băng ở xã Trí Phải, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau, với chi phí hơn 2 tỉ đồng.  Chiếc cầu treo này không những là nhịp cầu dân sinh, mà còn thuận tiện cho du khách gần xa đến viếng Phủ thờ Bác Hồ ở xã Trí Lực. Kinh phí xây cầu do ông Nguyễn Văn Quân (Sáu Quân), Chủ tiệm vàng ở chợ Huỳnh Sử bỏ ra đầu tư xây dựng.

Tôi hỏi Ba Hùng:

- Mới học hết tiểu học, sao các ông lại thiết kế và thi công được những cây cầu đòi hỏi kỹ thuật cao như thế này?  

Ba Hùng cười tự tin:

- Thương bà con quê mình vất vả, cứ làm, đâu không biết thì hỏi, tiền thiếu thì xin, công thiếu thì vận động tại chỗ… 

Ông Tư Liếu họa theo:

- Năm 1998, ba anh em chúng tôi đi thăm triển lãm ở thành phố Cần Thơ, thấy người ta trưng bày mô hình cầu Mỹ Thuận thật là tuyệt. Chúng tôi nghĩ mình cũng có thể làm được cầu “Mỹ Thuận bé” chứ sao? Dây văng đã làm bớt đi các trụ cầu. Như vậy, bắc cầu nối giao thông đường bộ, nhưng không làm cản trở dòng chảy, không làm ảnh hưởng đến giao thông đường thủy. Thế là chúng tôi mày mò bắt chước mô hình cầu Mỹ Thuận về làm.  

Mùa lũ năm ấy, hai bên bờ kênh An Hòa, nối bằng cây cầu ván thấp xịt, bị rác và lục bình mùa lũ chẹn cứng, gây ách tắc cả đường bộ, đường thủy nối hai xã Bình Hòa và An Hòa. Biết ông Tư Liếu và ông Ba Hùng có nghề xây dựng, ông Trần Văn Minh, Bí thư Đảng ủy xã An Hòa gợi ý: “Các bác nghĩ xem cách nào có thể bắc cầu vòm cao hơn mặt nước lũ để không bị tắc đường thủy vào mùa lũ?”.

Vốn đã có ý định từ khi đi thành phố Cần Thơ xem mô hình cầu Mỹ Thuận trong triển lãm, ông Tư Liếu bàn với ông Ba Hùng nghĩ cách thiết kế cầu treo dây văng đầu tiên, gọi là cầu Cua Chùa (theo địa danh địa phương). Không biết sử dụng máy vi tính, không có kinh nghiệm vẽ kỹ thuật, các ông đo kích thước mô hình cầu Mỹ Thuận rồi tính ra kích thước và cân đối tỉ lệ từng đoạn cầu, rồi tự vẽ bản thiết kế. Vẽ xong, ông Tư Liếu mạnh dạn đưa bản phác thảo cầu treo trình bày với Đảng ủy, chính quyền xã An Hòa. Cũng may được chính quyền xã ghi nhận và đem bản phác thảo cùng ý tưởng của ông Tư Liếu trình lên Phòng Giao thông và Phòng Xây dựng huyện Châu Thành. Các cán bộ chuyên ngành ở Phòng giao thông huyện thấy lạ: Một nông dân mà dám thiết kế cầu treo. Nhiều cán bộ, kỹ sư ngành cầu đường đi thực tế vẫn chưa ai đưa ra được phương án làm cầu treo hợp lý như vậy. Phòng giao thông đã góp ý, điều chỉnh một số chi tiết để tăng độ bền chắc, bảo đảm an toàn cho cây cầu treo, rồi nhất trí cho các ông làm thí điểm.

Ông Tư Liếu kể lại, hôm bắt đầu thi công làm cầu Cua Chùa, bà con phấn khởi lắm. Mấy cụ chống gậy tới xem, động viên. Trai tráng trong làng cũng đến gặp “Ban xây dựng cầu” xin được tham gia góp sức. Còn bà con trong ấp thì góp gạo, cá mắm, bầu bí cho anh em làm cầu ăn. Chưa đầy một tháng, cầu đã làm xong, dân kéo nhau tới xem rất đông, bởi lần đầu tiên trong đời họ được thấy ở miền quê mình có được cây cầu đẹp và chắc chắn như thế. Cầu dài 58m, rộng 2,5m, bắc theo kiểu dây văng ngang, trụ đứng có dây neo hai đầu, dầm gỗ, đà và lan can sắt. Kinh phí làm cầu chỉ tính tiền mua vật liệu hết 120 triệu đồng. 

Thành công cầu Cua Chùa, UBND huyện Châu Thành đề nghị làm tiếp chiếc cầu Vàm Kênh (ấp Hòa Phú 2, thị trấn An Châu). Làm cây cầu thứ hai này, ông Tư Liếu là "nhà thiết kế kiêm chỉ đạo thi công", ông Ba Nhơn hăng hái đi vận động bà con đóng góp tiền để tăng kinh phí. Còn ông Ba Hùng có thế mạnh về phương tiện máy móc và giỏi kỹ thuật cơ khí thì phụ trách kỹ thuật.

"Bộ ba làm cầu" nay đã có đủ sức như thế chân kiềng. Ai cũng bảo "ba ông hợp lại nên hòn núi cao". 

Tôi hỏi Tư Liếu:

- Cây cầu đang xây dựng ở Thới Bình, Cà Mau, các ông cũng tự vẽ thiết kế?

Tư Liếu sôi nổi:

- Bản thiết kế  đây nè.

Ông đưa cho tôi xem bản thiết kế vẽ bằng tay, có chỗ đường kẻ không thẳng, như là sự ước lệ để dễ hiểu. Vậy mà có đủ mặt cắt ngang, cắt dọc, khoảng tĩnh… Quả là tôi chịu cách làm cầu của ba ông “hai lúa”. Tiếng lành đồn xa, Lâm Đồng, rồi Thành phố Hồ Chí Minh cũng mời gọi “Tam gia cầu treo” lên bắc cầu nông thôn.

Hôm đó, “Tam gia cầu treo” mời chúng tôi ở lại ăn trưa tại nhà ông Tư Liếu. Tôi thấy lạ. Trên bàn ăn bày cả những món ăn chay. Ông Tư Liếu nói với tôi:

- Các anh cứ tự nhiên cho. Ba anh em chúng tôi ăn chay.

Tôi hỏi:

- Các ông ăn chay trường hay chay kỳ nhật nguyệt?

- Chúng tôi là tín đồ Phật giáo Hòa Hảo, ăn chay trường từ năm 1975,  cầu xin cho “Quốc thái dân an”, cầu xin non sông này bền vững và mọi người đến với nhau bằng chữ “tâm”.

Một trang trong bản thiết kế cầu Vàm Kinh Xáng (Cà Mau) do nhóm “Tam gia cầu treo” tự vẽ

Ông Ba  Nhơn lý giải:

- Trong tôn chỉ hành đạo của Phật giáo Hòa Hảo đã dạy: Làm hết tất cả các việc từ thiện, tránh tất cả các điều độc ác, quyết rửa tấm lòng cho trong sạch. Trước mỗi bữa ăn, chúng tôi đều tâm niệm những điều răn đó.

Làm được những nhịp cầu mới để xóa cầu khỉ ở nông thôn đã trở thành tâm nguyện của “tam gia”. Thấy ba ông nhiệt tình bắc cầu, ăn uống đơn giản, đạm bạc, nên đến đâu các ông cũng được bà con lo việc ăn uống chu đáo, hợp khẩu vị. Ông Ba Nhơn nói:

- Ở đâu, lúc nào chúng tôi cũng xác định tại gia cư sĩ, học phật tu nhân. Việc gì thấy lợi cho dân chúng, ích cho cộng đồng là chúng tôi sẵn lòng từ thiện giúp đời.

Ông Ba Nhơn kể lại chuyện làm cầu Huệ Đức: Tháng 8 năm ngoái, vào đúng kỳ lũ lớn và triều cường, ông đi trên bờ kênh Huệ Đức thuộc xã Tân Phú, huyện Châu Thành. Con kênh rộng, nuớc dâng tràn, dòng lũ chảy xiết, vậy mà người ta  chỉ đặt một tấm ván lên hai chiếc thùng phuy, rồi nối với hai bờ bằng những sợi dây thừng. Ai muốn đi phải đứng trên tấm ván đó, tự kéo dây để qua kênh. Bất ngờ ông thấy bốn em học sinh vừa kéo dây ra giữa dòng lũ thì bị nghiêng thùng phuy. Cả bốn rơi xuống dòng nước lũ. May được bà con lặn ngụp, mò tìm và cấp cứu, các em mới thoát nạn. Ông Ba Nhơn về bàn trong “tam gia”, đến đề nghị huyện Châu Thành và huyện Thoại Sơn, xin được bắc cầu qua kênh Huệ Đức. Rồi các ông đứng ra vận động các nhà hảo tâm ở thị trấn An Châu và một số doanh nghiệp ở thành phố Long Xuyên quyên góp tiền xây dựng cầu. Những người dân trong vùng biết ơn lắm, đề xuất nên gọi cây cầu là cầu Tam gia, nhưng “Tam gia cầu treo” không chịu. Các ông bảo cứ theo địa danh tự nhiên mà đặt tên cho cầu.

Kể xong câu chuyện làm cầu Huệ Đức, ông Ba Nhơn nhìn ra dòng kênh Mặc Cần Dưng cuộn chảy. Màu da ngăm đen của ông sao giống màu phù sa tần tảo ven bờ kênh đến thế. Búi tóc củ hành sau gáy rung rung. Ông cười:

- Khi đã bỏ công sức ra làm được một việc nghĩa, thấy bà con mừng vui, thật là không hạnh phúc nào bằng.

Tư Liếu nói với tôi:

- Ngoài việc làm cầu treo, ba anh em chúng tôi còn tham gia làm nhà tình thương, nhà tình nghĩa, làm đường nhựa, đuờng bê-tông liên xã, liên ấp đấy.

Vừa nói dứt lời ông quay vào nhà trong, lớn tiếng gọi:

- Mang trà đá lạnh ra, tụi bây!

Một cô gái còn khá trẻ bưng trà đá ra mời khách. Ông Tư Liếu giới thiệu:

- Đây là vợ thằng Ba Giang, con dâu của tui. Chồng nó cũng đang làm cầu Trí Phải. Có người nối nghiệp rồi, tui thấy yên lòng lắm.

Nhìn gương mặt rạng ngời của ông Tư Liếu, tôi thấy ở tuổi ngoài lục tuần mà ông còn sung sức lắm.

Bài và ảnh: BÙI VĂN BỒNG