QĐND - Đó là thông tin trong Công văn số 1972/SLĐTBXH-TTr do bà Đinh Thị Hưng, Giám đốc Sở Lao động, Thương binh và Xã hội (LĐ-TB và XH) tỉnh Lào Cai ký gửi Báo Quân đội nhân dân thông báo kết quả giải quyết khiếu nại của ông Cao Ngọc Tháp và một số công dân ở thị trấn phố Lu, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai. Trước đó, Báo Quân đội nhân dân số ra ngày 3-10-2015 trên mục “Nhắn tin” phản ánh khiếu nại của công dân về việc tỉnh Lào Cai hạ mức trợ cấp với người hoạt động kháng chiến (HĐKC) bị nhiễm chất độc hóa học (CĐHH) từ mức 1, mức 2 xuống mức 3.
Hủy bỏ kết quả giải quyết sai
Nội dung công văn nêu rõ: Điểm a, khoản 4, Điều 3 Pháp lệnh số 04/2012/UBTVQH13 quy định: “Người HĐKC bị nhiễm CĐHH được công nhận trước ngày 1-9-2012, hưởng trợ cấp hằng tháng theo mức suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên thì tiếp tục hưởng theo chế độ hiện hưởng. Người đang hưởng trợ cấp hằng tháng theo mức suy giảm khả năng lao động dưới 81% thì tiếp tục hưởng chế độ cho đến ngày 31-12-2013 và được chuyển sang hưởng trợ cấp của người suy giảm khả năng từ 41% đến 60% kể từ ngày 1-1-2014. Trường hợp người đã được chuyển sang hưởng trợ cấp của người suy giảm khả năng lao động từ 41% đến 60% mà có yêu cầu thì có thể được giám định lại và được hưởng trợ cấp tương ứng với mức độ suy giảm khả năng lao động theo kết quả giám định".
 |
|
Công văn số 1972/SLĐTBXH-TTr của Sở Lao động-Thương binh và Xã hội tỉnh Lào Cai mà tòa soạn nhận được.
|
Trước thời điểm điều chỉnh, qua rà soát, Cục Người có công (Bộ LĐ-TB&XH) phát hiện số người HĐKC bị nhiễm CĐHH ở tỉnh Lào Cai có tỷ lệ suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên đang hưởng trợ cấp mức 1 theo Nghị định 47/2012/NĐ-CP ngày 28-5-2012 cao bất thường (777 người, chưa tính 148 người đồng thời là thương binh nhưng đã thực hiện giám định, có biên bản kết luận tỷ lệ suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên). Cục đã có văn bản số 1241/NCC ngày 8-10-2013 yêu cầu đối với những trường hợp lập hồ sơ ở tỉnh Lào Cai theo Quyết định 26/2000/QĐ-TTg ngày 23-2-2000 và Quyết định số 120/2004/QĐ-TTg ngày 5-7-2004 phải hủy bỏ kết quả đã giải quyết sai, xác định lại cho đúng để giải quyết chế độ; trường hợp mắc bệnh hiểm nghèo, không còn khả năng lao động xếp hưởng trợ cấp mức 1; trường hợp mắc bệnh hiểm nghèo, bị suy giảm khả năng lao động xếp hưởng trợ cấp mức 2.
Lý do gì Cục Người có công đánh giá Lào Cai có tỷ lệ người suy giảm khả năng từ 81% trở lên hưởng trợ cấp mức 1 theo Nghị định 47/2012/NĐ-CP cao bất thường? Thực tế cho thấy, Nghị định số 54/2006/NĐ-CP ngày 26-5-2006 (hướng dẫn thi hành Pháp lệnh số 26/2005/PL-UBTVQH11 ngày 29-6-2005) và các thông tư hướng dẫn không quy định rõ đối tượng người HĐKC bị nhiễm CĐHH đã được xác lập hồ sơ và hưởng chế độ theo Quyết định số 26/2000/QĐ-TTg và Quyết định số 120/2004/QĐ-TTg khi chuyển xác nhận là người có công với cách mạng và hưởng chế độ theo Nghị định số 54/2006/NĐ-CP có phải thực hiện việc giám định, xác định tỷ lệ suy giảm khả năng lao động do bệnh tật liên quan đến phơi nhiễm chất độc hóa học làm căn cứ xếp hưởng trợ cấp hay không?
Giám định lại theo quy định
Để xử lý vấn đề này, ngày 28-9-2007 (sau hơn 2 năm kể từ khi Quốc hội ban hành Pháp lệnh số 26/2005/PL-UBTVQH11), Cục Người có công mới có văn bản số 1058/TBLS&NCC hướng dẫn: Không phải đi giám định tỷ lệ suy giảm khả năng lao động mà chuyển hưởng trợ cấp mức 1 theo Nghị định số 32/2007/NĐ-CP ngày 2-3-2007 nếu trước đó đang hưởng trợ cấp mức 1 theo Quyết định số 120/2004/QĐ-TTg, chuyển hưởng trợ cấp mức 2 theo Nghị định số 32/2007/NĐ-CP nếu trước đó đang hưởng trợ cấp mức 2 theo Quyết định số 120/2004/QĐ-TTg.
Thế nhưng, ở tỉnh Lào Cai, hướng dẫn tại văn bản số 1058/TBLS&NCC không được triển khai thực hiện. Trước đó, địa phương này đã tiến hành đưa toàn bộ người đang hưởng trợ cấp theo Quyết định số 120/2004/QĐ-TTg đi giám định, xác định tỷ lệ suy giảm khả năng lao động như người lập hồ sơ mới theo Nghị định 54/2006/NĐ-CP. Trong khi đó, Nhà nước chưa có quy định cụ thể danh mục bệnh tật liên quan đến phơi nhiễm chất độc hóa học, dẫn đến kết luận giám định cộng gộp các bệnh thông thường, nâng tỷ lệ suy giảm khả năng lao động của người giám định và kết quả giám định đó được lấy làm căn cứ để xếp hưởng trợ cấp.
Thực hiện chỉ đạo tại văn bản số 1241/NCC, các cơ quan chức năng của tỉnh Lào Cai đã tiến hành rà soát lại tình trạng bệnh tật đối với người HĐKC bị nhiễm CĐHH. Kết quả rà soát xác định: 1 người mắc bệnh theo danh mục và có kết luận giám định tỷ lệ suy giảm khả năng lao động 81% tiếp tục được xếp hưởng trợ cấp mức 1; 20 người xếp hưởng trợ cấp mức 2 (61-80%); 1.437 người không mắc bệnh hiểm nghèo, chỉ sinh con dị dạng, dị tật, xếp hưởng trợ cấp mức 3 (41-60%). Việc điều chỉnh được thực hiện từ quý IV-2014.
Công văn của Sở LĐ-TB&XH tỉnh Lào Cai cho biết: Đại bộ phận người HĐKC ở tỉnh Lào Cai đồng tình với sự điều chỉnh này. Tuy nhiên, một số người đã có đơn gửi các cơ quan chức năng song khi được giải thích, họ đã tự nguyện rút đơn. Mặt khác, có hiện tượng mạo danh người có công để viết đơn, lôi kéo, kích động nhân dân. Có 5 người sau khi được giải thích vẫn khiếu nại và Sở LĐ-TB&XH Lào Cai đã thụ lý, giải quyết khiếu nại lần đầu. Sau đó có 3 người tiếp tục khiếu nại lần 2, hiện sở đang thụ lý, giải quyết theo quy định. Với trường hợp ông Cao Ngọc Tháp, sở đã nhận được đơn khiếu nại của ông nhưng do đơn thư đã hết thời hiệu nên không thụ lý, giải quyết. Tuy vậy, ngày 22-6-2015, sở vẫn có văn bản số 1047/SLĐTBXH-TTr trả lời, giải thích để ông Tháp rõ.
Toàn bộ sự việc đã được báo cáo gửi về Bộ LĐ-TB&XH để xin chỉ đạo giải quyết. Bộ LĐ-TB&XH cũng đã có văn bản số 2548/TB-LĐTBXH ngày 30-6-2015 hướng dẫn Sở LĐ-TB&XH tỉnh Lào Cai với nội dung: Những trường hợp không đồng ý với việc điều chỉnh nếu có nguyện vọng, đồng thời mắc bệnh theo danh mục quy định thì được khám, giám định lại. Thế nhưng đến nay, các cơ quan chức năng của địa phương xác định trên địa bàn không có trường hợp nào có nguyện vọng.
Trên cơ sở ý kiến của công dân, Đoàn đại biểu Quốc hội Lào Cai và Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã giám sát về vấn đề này và đánh giá việc điều chỉnh trợ cấp đối với người HĐKC bị nhiễm CĐHH ở tỉnh Lào Cai đã bảo đảm phù hợp quy định của hệ thống chính sách, pháp luật, bảo đảm công bằng chung so với các địa phương khác trên toàn quốc.
KIM DUNG