Tháng 2-1964, chàng thanh niên Đỗ Xuân Đán xung phong nhập ngũ thuộc Trung đoàn 170, Quân chủng Hải quân. Sau thời gian huấn luyện quân sự, Đỗ Xuân Đán được biên chế về Tàu T100 với nhiệm vụ là pháo thủ ở vị trí số 5 (sau Đài chỉ huy).
Tháng 12-1965, anh cùng con tàu và đồng đội tập kết tại bến K15 (Đồ Sơn, Hải Phòng) để nhận hàng. Đây là chuyến đi đầu tiên của anh. Và trong một đêm tối trời, gió mùa Đông Bắc thổi mạnh, Tàu T100 lặng lẽ rời bến K15, nhằm hướng Tây Nam Biển Đông thẳng tiến. Tuy nhiên, chuyến chuyển hàng đầu tiên này đã bị địch phát hiện khi tàu đã vào đến đảo Hòn Khoai. Để bảo đảm an toàn, Tàu T100 được lệnh quay trở lại nơi xuất phát.
Cuối tháng 4-1966, Tàu T100 lại được lệnh nhận hàng và tiếp tục đi làm nhiệm vụ. Sau 7 ngày, đêm trên biển, Tàu T100 đã đi chệch hướng để trả hàng. Một tàu tuần tiễu của địch phát hiện và đuổi theo ngăn chặn. Tàu T100 phát tín hiệu liên lạc lên bờ nhưng vì sóng quá lớn nên lực lượng bờ không thể ra dẫn đường cho tàu cập bến. Lúc này khoảng 3-4 giờ sáng, phía Biển Đông chân trời đã hửng, bất ngờ Tàu T100 mắc cạn, chân vịt chém vào vật cứng khiến con tàu rung lên dữ dội và khựng lại. Thuyền trưởng ra lệnh thủy thủ rời tàu. Ông cùng một chiến sĩ báo vụ và pháo thủ số 2 dìu nhau bơi vào bờ và được một đơn vị quân giải phóng đón ở bến. Cả ngày hôm đó, trên trời máy bay địch quần thảo, bắn phá khu vực Tàu T100, ngoài khơi tàu chiến địch bao vây. Con Tàu T100 trúng đạn cháy âm ỉ, đến 20 giờ tối thì con tàu phát nổ. Một cột lửa cao hàng trăm mét dựng đứng, mảnh vỡ bay chém vào cây trên bờ rào rào, toàn bộ con tàu đã vĩnh viễn nằm lại ở biển khơi. 17 cán bộ, chiến sĩ của Tàu T100 được cơ sở đón và đưa về an toàn.
 |
| Đại tá Đỗ Xuân Đán. |
Sau hơn 2 năm ở bến Cà Mau, anh kiên trì chờ thời cơ trở lại miền Bắc để tiếp tục làm nhiệm vụ. Cuối tháng 12-1968, anh được điều về đơn vị T3 công tác (T3 là tên gọi của Khu Tây Nam Bộ trong kháng chiến chống Mỹ). Anh dự lớp đào tạo quản lý 3 tháng rồi được bổ sung vào Ban Tài vụ, Phòng Hậu cần T3 và được phân công làm kế toán. Ban Tài vụ, Phòng Hậu cần T3 khi đó chỉ khoảng 10 cán bộ, chiến sĩ nhưng đảm bảo tài chính cho lực lượng chủ lực của toàn Quân khu 9.
Đồng chí Đỗ Xuân Đán nhớ mỗi lần đi nhận tiền ở Ban Kinh tài Khu (của Khu ủy) hoặc đi các tỉnh nhận tiền thật sự là một lần đi chiến đấu. Cả tổ đi trên một chiếc xuồng ba lá với hai chiến sĩ tài vụ len lỏi, vượt qua bao đồn bốt dày đặc và sự kiểm soát gắt gao của địch. Có lần, anh cùng đồng nghiệp đi nhận tiền ở tỉnh Sóc Trăng, trên đường về gặp địch đổ quân càn quét. Anh cùng đồng đội nhanh chóng giấu bao tiền dưới gốc cây dừa nước rồi cùng lực lượng dân quân, du kích địa phương tham gia chống càn, bảo vệ an toàn người và tài sản.
Sau Tổng tấn công Tết Mậu Thân năm 1968, địch tăng cường càn quét, đánh phá căn cứ ác liệt hơn, phương tiện làm việc của anh em Ban Tài vụ là một chiếc bàn xếp nhỏ, sổ sách nghiệp vụ xếp gọn trong thùng đạn 12,7mm của Mỹ. Khẩu súng AK luôn để bên cạnh, khi có địch là xách súng và thùng tài liệu cơ động ngay. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, cơ quan Phòng Tài chính Quân khu luôn giữ gìn, bảo vệ an toàn tài sản, tài liệu, không để thất thoát hoặc rơi vào tay địch.
Sau Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử năm 1975, đồng chí Đỗ Xuân Đán tiếp tục công tác tại Phòng Tài chính Quân khu 9 cho đến năm 2003 thì nghỉ hưu. Từ một chiến sĩ, pháo thủ của đoàn Tàu không số đến trợ lý Phòng Tài chính Quân khu rồi Phó trưởng phòng, Trưởng phòng Tài chính Quân khu, ông luôn nỗ lực, cố gắng học tập, rèn luyện đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ. Những năm ở cương vị Trưởng phòng, đồng chí cùng tập thể Phòng Tài chính Quân khu xây dựng nền nếp làm việc chính quy, thống nhất; tham mưu xây dựng quy chế lãnh đạo, quản lý, sử dụng tài chính của cấp ủy Đảng từ Quân khu đến đơn vị cơ sở; thường xuyên bám nắm đơn vị để chỉ đạo, điều hành chuyên môn và tháo gỡ khó khăn về nghiệp vụ. Nhờ vậy, công tác quản lý tài chính của Quân khu luôn chặt chẽ, thực hiện hiệu quả, bảo đảm và sử dụng ngân sách đúng trọng tâm, trọng điểm; đáp ứng đầy đủ, kịp thời các chế độ, tiêu chuẩn về đời sống vật chất, tinh thần cho bộ đội, phục vụ tốt nhất nhiệm vụ chính trị của Quân khu.
Nghỉ hưu là cựu chiến binh trở về với cuộc sống đời thường (gia đình ông ở đường 30/4, phường Xuân Khánh, quận Ninh Kiều (cũ), thành phố Cần Thơ), ông cùng vợ và con, cháu quây quần, ấm cúng với nếp sống thanh đạm, giản dị. Ông luôn nhắc nhở, giáo dục con cháu không chỉ làm tròn bổn phận công dân mà còn phải tận tâm, mình vì mọi người, phải luôn biết chăm lo cho người khác vì một cộng đồng xã hội tốt đẹp hơn. Các cuộc vận động thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, địa phương... gia đình ông luôn gương mẫu đi đầu và tích cực vận động mọi người cùng tham gia.
Mặc dù đã nghỉ hưu, nhưng trong ông luôn đau đáu một nỗi niềm tri ân đồng đội, nhất là những đồng đội đã hy sinh trên các con Tàu không số. Năm 1995, ông phối hợp cùng thân nhân một số gia đình liệt sĩ tìm kiếm và xác định mộ liệt sĩ đưa về quê hương. Kết quả các liệt sĩ Hồ Quang Phụng, chiến sĩ Tàu T69 (hy sinh ngày 17-2-1970); liệt sĩ Phạm văn Kiều, chiến sĩ Tàu T69 (hy sinh ngày 11-2-1969) đã được đưa về quê nhà ở tỉnh Quảng Bình.
Hiện nay, ông và Ban liên lạc đang xác định vị trí mộ liệt sĩ Lê Công Khanh, chiến sĩ Tàu T100, hy sinh năm 1971, an táng tại Nghĩa trang liệt sĩ Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau để sớm đưa về quê hương. Năm 2010, thông qua cơ quan thường trú Báo Tuổi trẻ tại thành phố Cần Thơ, ông kiến nghị đặt tên đường phố cho liệt sĩ, Anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Chánh Tâm, người thuyền trưởng Tàu T165, quê ở xã Long Tuyền, quận Bình Thủy (cũ), thành phố Cần Thơ. Thuyền trưởng Nguyễn Chánh Tâm hy sinh ngày 1-3-1968 tại vùng biển Cà Mau trong khi vận chuyển vũ khí chi viện cho chiến trường Tây Nam Bộ. Thành phố Cần Thơ đã chấp thuận và đặt tên đường phố mang tên Nguyễn Chánh Tâm cho một con đường ở trung tâm hành chính quận Bình Thủy (cũ).
Đặc biệt, để tri ân đối với 18 liệt sĩ trên Tàu T165, hy sinh ngày 1-3-1968 tại vùng biển Cà Mau, ông cùng Ban liên lạc Hội truyền thống đường Hồ Chí Minh trên biển khu vực Đồng bằng sông Cửu Long phối hợp Ban liên lạc truyền thống Cựu chiến binh Đoàn 962 (đơn vị bến Cà Mau) làm văn bản kiến nghị UBND tỉnh Cà Mau về việc dựng bia tưởng niệm Tàu T165 và ghi danh 18 liệt sĩ. Ban liên lạc truyền thống đường Hồ Chí Minh trên biển cùng với UBND huyện Ngọc Hiển (cũ), tỉnh Cà Mau đã xác định vị trí để xây dựng Bia tưởng niệm Tàu T165 và bảng ghi danh 18 liệt sĩ trong Khu di tích lịch sử Quốc gia Vàm Lũng, huyện Ngọc Hiển (cũ), tỉnh Cà Mau. Hy vọng Bia tưởng niệm Tàu T165 cùng bảng ghi danh 18 liệt sĩ, thủy thủ tàu sớm được các cấp, ngành quan tâm hoàn thành, tạo một địa chỉ đỏ góp phần giáo dục truyền thống cho các thế hệ mai sau.
Vào tuổi tám mươi, mặc dù tuổi cao, sức khỏe giảm sút nhưng người cựu chiến binh, nguyên Trưởng phòng Tài chính Quân khu 9, Đại tá Đỗ Xuân Đán luôn tâm nguyện một điều: Sức khỏe còn cho phép, ông sẽ cùng Ban liên lạc Hội truyền thống đường Hồ Chí Minh trên biển tiếp tục làm tốt việc tri ân đồng đội, những người đã dâng hiến máu xương và tuổi thanh xuân của mình vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc.