Theo Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP, nhiều nội dung quan trọng được đổi mới, gồm:

Thực hiện toàn bộ quy trình cấp và quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói trên môi trường số thông qua Cổng dịch vụ công quốc gia và Hệ thống xử lý nghiệp vụ của Bộ Nông nghiệp và Môi trường; bảo đảm dữ liệu đúng, đủ, sạch, sống; minh bạch thông tin của toàn bộ quy trình thực hiện thủ tục hành chính.

 Một vườn na tại tỉnh Lạng Sơn.

Theo Nghị quyết số 36, chủ tịch UBND cấp xã được giao thực hiện thủ tục cấp, cấp lại mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói; đồng thời thực hiện hậu kiểm, quản lý, thu hồi, tạm dừng hoặc khôi phục mã số theo quy định. Điểm mới đặc biệt theo Nghị quyết số 36 là hồ sơ đã được đơn giản hóa tối đa, chỉ còn đơn đề nghị cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói (bỏ Bản thuyết minh của mã số vùng trồng/mã số cơ sở đóng gói theo quy định tại Nghị định số 38/2026/NĐ-CP).

Như vậy, đã giảm 50% thành phần hồ sơ; nội dung đơn chỉ bao gồm các thông tin tối thiểu cần thiết; không yêu cầu nộp lại giấy tờ, thông tin đã có trong cơ sở dữ liệu và có thể khai thác được.

Nghị quyết số 36 cũng quy định, rút ngắn thời gian giải quyết hồ sơ đối với từng trường hợp; quy định rõ trình tự đối với mã số phục vụ thị trường trong nước và mã số phục vụ xuất khẩu.

Cụ thể rút ngắn thời gian thực hiện thủ tục hành chính từ 14 ngày làm việc xuống còn 3 ngày làm việc đối với trường hợp tổ chức, cá nhân không đăng ký xuất khẩu (giảm 11 ngày làm việc, giảm khoảng 78,6%) và 10 ngày làm việc đối với trường hợp tổ chức, cá nhân đăng ký xuất khẩu đến các thị trường có yêu cầu về mã số (giảm 4 ngày làm việc, giảm khoảng 28,6%).

Dữ liệu mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói được quản lý tập trung, công khai và kết nối với Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản cùng các cơ sở dữ liệu liên quan, phục vụ quản lý thống nhất trên phạm vi toàn quốc.

Bãi bỏ quy định về diện tích tối thiểu, làm rõ việc cấp mã số cho các cây trồng xen canh và chủ thể chịu trách nhiệm, đảm bảo khả năng truy xuất nguồn gốc.

Tiếp tục duy trì hiệu lực các mã số đã được cấp trước đây, bảo đảm quá trình chuyển đổi không làm gián đoạn hoạt động sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu.

Để Nghị quyết đi vào cuộc sống ngay sau khi được ban hành, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã có văn bản đề nghị các địa phương khẩn trương xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện. Theo đó, các địa phương cần tập trung nguồn lực hỗ trợ cấp xã thực hiện nhiệm vụ; tổ chức tập huấn, hướng dẫn; chuẩn hóa dữ liệu vùng trồng, cơ sở đóng gói. Đồng thời, tăng cường kiểm tra, giám sát; đẩy mạnh tuyên truyền; đồng thời giao nhiệm vụ cụ thể cho các đơn vị thuộc Bộ trong việc hoàn thiện hệ thống số, hướng dẫn kỹ thuật, kết nối dữ liệu và hỗ trợ địa phương trong quá trình thực hiện.

Để việc thực hiện cấp mã số vùng trồng phát huy được hiệu quả tốt nhất, đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc sản phẩm trồng trọt rất cần đẩy mạnh xây dựng các hợp tác xã. Khi đó, mã số vùng trồng sẽ được cấp cho các hợp tác xã (mã số lớn) sẽ góp phần giảm thiểu được số lượng mã số vùng trồng phục vụ xuất khẩu cũng như tiêu thụ tại thị trường trong nước.

Hơn nữa, đối với các nước nhập khẩu có yêu cầu phê duyệt, công nhận mã số vùng trồng do Việt Nam cấp, họ sẽ khó có thể thực hiện việc phê duyệt cũng như giám sát hàng chục nghìn, hàng trăm nghìn mã số vùng trồng được.

Trong các mã số vùng trồng lớn cấp cho các hợp tác xã, sẽ có những mã số nhỏ cấp đến từng thành viên hợp tác xã (hộ gia đình). Nếu cách làm này được triển khai thực hiện vừa giúp cho công tác quản lý, đáp ứng được yêu cầu truy xuất nguồn gốc sản phẩm vừa giảm thiểu được rủi ro. Khi những lô hàng bị phía nước nhập khẩu cảnh báo sẽ tạm dừng xuất khẩu đối với những mã số vùng trồng là thành viên hợp tác xã (hộ gia đình) đó, còn đối với những hộ gia đình (thành viên hợp tác xã) và hợp tác xã có mã số vùng trồng không bị cảnh báo sẽ vẫn được tiếp tục xuất khẩu.

Như vậy, sẽ giảm thiểu được nguy cơ thiệt hại không đáng có cho các hộ gia đình và hợp tác xã, đặc biệt đối với những sản phẩm trồng trọt không bị phía nước nhập khẩu cảnh báo.

Giống na mới được trồng tại tỉnh Lạng Sơn.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp chia sẻ: Việc triển khai đồng bộ Nghị quyết số 36 sẽ tạo bước chuyển mạnh trong công tác quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; giảm chi phí, thời gian thực hiện thủ tục hành chính. Thúc đẩy chuyển đổi số và truy xuất nguồn gốc, góp phần xây dựng vùng nguyên liệu minh bạch, đáp ứng yêu cầu của thị trường trong nước và quốc tế. Qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh, gia tăng giá trị và phát triển bền vững ngành trồng trọt Việt Nam.