Giá cà phê tại Tây Nguyên duy trì ở mức cao, phổ biến ở mức 96.300 - 97.000 đồng/kg. So với cuối tuần trước, giá cà phê tại một số địa phương tăng nhẹ 100 đồng/kg.

Tại Đắk Lắk và Gia Lai, giá cà phê nhân xô ở mức 96.800 đồng/kg, tăng 100 đồng/kg so với cuối tuần trước. Tại Lâm Đồng, giá cà phê tăng 100 đồng/kg, lên mức 96.300 đồng/kg.

Tại Đắk Nông (Lâm Đồng), giá cà phê ở mức 97.000 đồng/kg, cao nhất khu vực.

Sau những phiên biến động khá mạnh trong những ngày đầu tháng 8, giá cà phê trong nước đang có xu hướng ổn định trở lại. Mặt bằng giá hiện vẫn ở mức cao và không còn cách quá xa mốc 100.000 đồng/kg.

Giá cà phê tại Tây Nguyên duy trì ở mức cao, phổ biến ở mức 96.300 - 97.000 đồng/kg. Ảnh minh họa: thuongtruong.com.vn

* Giá hồ tiêu trong nước đồng loạt giảm 2.000 đồng/kg, đưa mặt bằng giá xuống mức 136.000 - 139.000 đồng/kg.

Tại Đắk Nông (Lâm Đồng), giá hồ tiêu giảm 2.000 đồng/kg, xuống mức 139.000 đồng/kg. Tại Đắk Lắk, giá hồ tiêu cũng giảm 2.000 đồng/kg, xuống mức 138.000 đồng/kg.

Tại Gia Lai, Đồng Nai và Bà Rịa - Vũng Tàu (TP Hồ Chí Minh), giá hồ tiêu cùng giảm về 136.000 đồng/kg, thấp nhất thị trường. 

Như vậy, sau phiên điều chỉnh, vùng giá 140.000 đồng/kg tạm thời không còn xuất hiện trên thị trường nội địa. Chênh lệch giữa mức giá cao nhất và thấp nhất hiện là 3.000 đồng/kg.

Đáng chú ý, diễn biến giảm trong nước diễn ra trong bối cảnh giá hồ tiêu xuất khẩu của Việt Nam và một số nước sản xuất lớn vẫn duy trì ổn định hoặc tăng.

Trên thị trường quốc tế, giá hồ tiêu đen xuất khẩu của Việt Nam loại 500 g/l duy trì ở mức 5.970 USD/tấn, trong khi loại 550 g/l đạt mức 6.050 USD/tấn; giá hồ tiêu trắng xuất khẩu của Việt Nam tăng 50 USD/tấn, lên mức 8.400 USD/tấn.

* Giá lúa gạo không biến động

Giá lúa tươi IR 50404 dao động 6.300 - 6.400 đồng/kg; lúa OM 5451 ở mức 6.700 - 6.800 đồng/kg.

Lúa tươi Đài Thơm 8 và OM 18 dao động 6.900 - 7.000 đồng/kg, giá lúa OM 34 ở mức 6.100 - 6.300 đồng/kg.

Đối với gạo nguyên liệu xuất khẩu, giá gạo IR 504 dao động 9.700 - 9.800 đồng/kg; giá gạo CL 555 ở mức 9.750 - 9.850 đồng/kg; giá gạo OM 5451 dao động 9.300 - 9.400 đồng/kg.

Gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 18 ở mức 8.700 - 8.850 đồng/kg; Đài Thơm 8 dao động 9.200 - 9.400 đồng/kg; OM 380 và Sóc thơm cùng ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg.

Tại các chợ lẻ, gạo tiếp tục đứng giá. Gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất, khoảng 28.000 đồng/kg. Gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa 21.000 đồng/kg.

Gạo Jasmine dao động 16.500 - 17.500 đồng/kg; gạo Đài thơm 15.000 - 16.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng khoảng 16.000 đồng/kg; gạo thường 13.500 - 14.500 đồng/kg.

Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam tiếp tục đứng giá so với cuối tuần trước. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo thơm 100% tấm dao động 367 - 371 USD/tấn; gạo thơm 5% tấm ở mức 500 - 510 USD/tấn; gạo Jasmine được chào bán 541 - 545 USD/tấn.

Tại Thái Lan, giá gạo 5% tấm dao động 450 - 454 USD/tấn, gạo 100% tấm ở mức 377 - 381 USD/tấn. Tại Ấn Độ, gạo 5% tấm dao động 361 - 365 USD/tấn, gạo 100% tấm ở mức 292 - 296 USD/tấn.

Theo thông tin từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường và Bộ Công Thương, trong tháng 7-2026, Việt Nam xuất khẩu khoảng 505.000 tấn gạo, trị giá 252,8 triệu USD. Lũy kế 7 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu gạo đạt 5,5 triệu tấn, thu về 2,64 tỷ USD, tăng 0,5% về lượng nhưng giảm 6,7% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025.