Nhận con nuôi vẫn còn nhiều vấn đề phát sinh. Ảnh: Internet

Qua hơn 5 năm thực hiện các qui định của pháp luật về vấn đề nuôi con nuôi nói chung, nuôi con nuôi quốc tế nói riêng và thực hiện Nghị định 68/2002/NĐ-CP ngày 10-7-2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài (sau đây gọi tắt là NĐ 68), có một số khó khăn, vướng mắc nảy sinh.

Thứ nhất, về cơ sở nuôi dưỡng: Theo quy định của NĐ 68, cơ sở nuôi dưỡng để giải quyết cho trẻ em làm con nuôi của người nước ngoài phải là cơ sở nuôi dưỡng được thành lập hợp pháp. Một số địa phương ở phía nam vẫn tồn tại các cơ sở nuôi dưỡng; trong đó các cơ sở nuôi dưỡng của các tổ chức tôn giáo, đã được hình thành từ trước giải phóng nay vẫn hoạt động. Người nước ngoài đến Kon Tum chủ yếu xin trẻ em từ cơ sở này làm con nuôi. Thứ hai, về trình tự chuẩn bị hồ sơ của trẻ em được xin đích danh: Theo quy định, sau khi nhận được yêu cầu của cơ quan con nuôi quốc tế tại Việt Nam, Sở Tư pháp có trách nhiệm hướng dẫn cơ sở nuôi dưỡng trẻ em (nếu trẻ em được xin đích danh từ cơ sở nuôi dưỡng) hoặc cha, mẹ, người giám hộ của trẻ em (nếu trẻ em được xin đích danh từ gia đình) lập hồ sơ của trẻ em. Tuy nhiên, khi hướng dẫn lập hồ sơ còn gặp vướng mắc. Khoản 3, Điều 44 của NĐ 68 ghi rõ: “Sau khi đã được thông báo và nhận thức một cách rõ ràng về hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, những người sau đây có quyền ký giấy đồng ý cho trẻ em làm con nuôi: Người đứng đầu cơ sở nuôi dưỡng có quyền đồng ý cho trẻ em đang sống ở cơ sở nuôi dưỡng làm con nuôi. Trong trường hợp trẻ em còn cha, mẹ đẻ thì còn phải có sự đồng ý bằng văn bản của cha, mẹ đẻ của trẻ em đó, trừ trường hợp trẻ em đó có nguồn gốc bị bỏ rơi, bị bỏ lại cơ sở y tế hoặc khi trẻ em đó được đưa vào cơ sở nuôi dưỡng đã có giấy của cha mẹ đẻ đồng ý cho con làm con nuôi hoặc cha mẹ đẻ của trẻ em đó mất năng lực hành vi dân sự. Cha mẹ đẻ có quyền đồng ý cho trẻ em đang sống tại gia đình làm con nuôi. Nếu cha hoặc mẹ đẻ của trẻ em đã chết hoặc bị tuyên bố là đã chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì chỉ cần sự đồng ý của người kia. Trong trường hợp cả cha và mẹ đẻ của trẻ em đã chết hoặc bị tuyên bố là đã chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì phải có sự đồng ý của người giám hộ của trẻ em đó.

Do vậy, khi thực hiện thì có thể hiểu rằng, hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là hệ quả pháp lý của hình thức nuôi con nuôi “Trọn vẹn” hay hình thức “Đơn giản”. Nhưng để thiết lập hồ sơ, khi hướng dẫn, Sở Tư pháp không có đủ cơ sở pháp lý để giải thích thế nào là hình thức cho con nuôi “Trọn vẹn” hay hình thức “Đơn giản”. Vấn đề này cần có quy định hướng dẫn rõ ràng và cụ thể, để có cơ sở thống nhất thực hiện. Thứ ba, việc giao nhận con nuôi: Khoản 2, Điều 49 của Nghị định số 68 quy định: “Việc giao nhận con nuôi được tổ chức tại trụ sở Sở Tư pháp, với sự có mặt của đại diện Sở Tư pháp; trẻ em được nhận làm con nuôi; bên nhận là cha, mẹ nuôi; bên giao là đại diện cơ sở nuôi dưỡng, nếu trẻ em được xin nhận làm con nuôi từ cơ sở nuôi dưỡng hoặc cha, mẹ đẻ, người giám hộ của trẻ em, nếu trẻ em được xin nhận làm con nuôi từ gia đình”. Vấn đề đặt ra là đối với những trường hợp trẻ em sống ở cơ sở nuôi dưỡng, nhưng còn cha, mẹ thì tại buổi giao nhận con nuôi, ngoài sự có mặt của người đại diện cơ sở nuôi dưỡng, việc có hay không có sự có mặt của cha, mẹ đẻ của trẻ lại chưa được quy định rõ ràng. Thứ tư, vấn đề công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài xin nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi. Về nguyên tắc giải quyết việc cho nhận con nuôi, theo NĐ 68 thì chỉ giải quyết cho nhận trẻ em có quốc tịch Việt Nam làm con nuôi, nếu Việt Nam và nước nơi người xin nhận con nuôi thường trú đã ký kết hoặc cùng gia nhập điều ước quốc tế về hợp tác nuôi con nuôi. Trừ trường hợp đặc biệt ngoại lệ áp dụng cho người nước ngoài. Như vậy, trường hợp công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài, nước mà chưa ký kết Hiệp định về nuôi con nuôi với Việt Nam xin nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi, thì có phải tuân thủ nguyên tắc trên hay không? Nếu không phải áp dụng, thì trình tự giải quyết được thực hiện như thế nào, cũng nên được quy định rõ ràng.

Để tiếp tục thực hiện có hiệu quả NĐ 68 trong thời gian tới, đề nghị Bộ Tư pháp cần có văn bản hướng dẫn việc giải quyết cho người Việt Nam định cư ở các nước chưa ký với Việt Nam Hiệp định về nuôi con nuôi, tạo cơ sở pháp lý cho việc giải quyết khi có yêu cầu. Đồng thời, Bộ Tư pháp cần có hướng dẫn đối với các vấn đề mà các địa phương còn vướng mắc như đã đề cập ở trên.

PHẠM VĂN CHUNG

(Sở Tư pháp tỉnh Kon Tum)