QĐND - Di cư lao động từ nông thôn ra thành thị và các khu công nghiệp đang dần thay thế các chương trình di cư theo kế hoạch của Nhà nước, di cư hộ gia đình cũng ít đi và được thay thế bằng di cư cá nhân. Đây là kết quả nghiên cứu của Dự án “Tình hình di chuyển lao động từ nông thôn ra thành thị và các khu công nghiệp trong bối cảnh Việt Nam gia nhập WTO”, do Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (LĐ, TB và XH) tiến hành trong thời gian vừa qua.
Được biết, để có cái nhìn tổng thể, chân thực, Dự án “Tình hình di chuyển lao động từ nông thôn ra thành thị và các khu công nghiệp trong bối cảnh Việt Nam gia nhập WTO” đã lựa chọn những tỉnh, thành phố có nhiều lao động di cư đến làm việc tại khu công nghiệp, khu chế xuất và những tỉnh, thành phố đang trong quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp để thực hiện điều tra, khảo sát. Đó là các địa phương: Thái Nguyên, Phú Thọ, Quảng Ninh, Hà Nội, Hải Dương, Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Nghệ An, Đà Nẵng, Quảng Nam, Đắc Lắc, Lâm Đồng, Bình Dương, TP Hồ Chí Minh, Cần Thơ.
 |
| Hội thảo phương án điều tra khảo sát thực trạng lao động di chuyển từ nông thôn ra thành thị và các khu công nghiệp do Bộ LĐ, TB và XH tổ chức. |
Quá trình nghiên cứu cho thấy, mặc dù đã có chính sách nhà ở công nhân, nhà xã hội, đề án tạo việc làm và đào tạo nghề cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp… song, hầu hết những chính sách này vẫn đang gặp khó khăn trong triển khai. Chẳng hạn, nhà ở là nhu cầu bức thiết nhất của người lao động, nhưng khả năng đáp ứng nhu cầu này của cả người lao động và doanh nghiệp lại rất thấp. Trong quá trình thực thi chính sách này đang gặp một số rào cản như: Ưu đãi thu hút doanh nghiệp xây dựng nhà ở xã hội chưa đủ mạnh; ý thức trách nhiệm của doanh nghiệp còn thấp… Do vậy, lao động di cư ra thành thị và các khu công nghiệp không có định hướng lâu dài cho công việc của họ. Có tới 59,8% người di cư không biết dự định sẽ sinh sống ở địa phương nơi làm việc trong bao lâu, chỉ 7,5% có có ý định định cư hẳn.
Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra thực tế là 66,1% lao động di cư không có chuyên môn kỹ thuật, tỷ lệ tốt nghiệp đại học là 6,5%. Điều này mang lại những rủi ro cho người lao động di cư khi công việc của họ thường mang tính chất độc hại, nguy hiểm và thiếu ổn định. Đáng lo ngại nhất là có tới 30,5% người lao động di cư làm các công việc có đặc điểm ô nhiễm tiếng ồn, bụi bẩn; 14,1% làm công việc độc hại; 10,4% làm công việc có tính chất nguy hiểm. Bên cạnh đó, nhóm di cư làm nghề tự do thường không có hợp đồng lao động, không tham gia bảo hiểm. Đây là nhóm yếu thế, do công việc thiếu ổn định, thu nhập thấp.
Còn về vấn đề an ninh trật tự liên quan đến lao động di cư, có 51,3% người lao động di cư được hỏi cho rằng, tình trạng mất an ninh trật tự thường đến từ nhóm người di cư, chỉ 21% cho rằng do người tại địa phương. Bên cạnh đó, tình trạng mâu thuẫn giữa lao động di cư và lao động địa phương vẫn xảy ra. Có 92,9% lao động di cư được hỏi cho rằng, địa phương sở tại không có bất kỳ hỗ trợ gì cho họ. Thêm một phát hiện nữa của dự án là có tới 50% số người di cư đang có việc làm ở địa phương song vẫn có nhu cầu di cư ra thành thị... Nguyên nhân chủ yếu là tình trạng việc làm không ổn định, thu nhập tại địa phương thấp đã tạo nên “lực đẩy”, khiến lao động muốn di cư khỏi địa phương ngày càng tăng.
Theo đánh giá của các chuyên gia, trước khi hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu, Việt Nam có gần 80% lực lượng lao động làm việc tại nông thôn và đến nay con số này đã giảm còn 70,3%. Như vậy, việc đẩy mạnh mở rộng hợp tác kinh tế, thu hút đầu tư nước ngoài sau khi Việt Nam gia nhập WTO đã mở ra cơ hội thuận lợi về thị trường, kích thích nền kinh tế phát triển, đồng thời cũng thu hút một lực lượng lao động khá lớn từ khu vực nông thôn chuyển sang lao động trong lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ tại các thành phố, khu công nghiệp.
Ông Nguyễn Đại Đồng, Cục trưởng Cục Việc làm (Bộ LĐ,TB và XH) cho biết, có tới 80% lao động di cư vì lý do kinh tế, trong đó gần 70% lao động di cư là thanh niên trẻ dưới 30 tuổi, với nhóm di cư đến các khu công nghiệp có độ tuổi trung bình khoảng 23 tuổi. Mặc dù đã bắt đầu có những chính sách pháp luật dành tiền cho lao động di cư, nhưng khung chính sách pháp luật này vẫn chưa đầy đủ và thống nhất, vấn đề lao động di cư chưa được phân công cụ thể cho một bộ, ngành quản lý để bảo đảm giải quyết được những vấn đề phát sinh, bảo đảm quyền lợi của người lao động. Muốn bảo đảm lực lượng lao động cân bằng cần phải có chính sách tạo lực hút lao động tại địa phương để giảm thiểu tình trạng di cư lao động ồ ạt như hiện nay.
Bài và ảnh: LAN HƯƠNG