Đồng chí Vương Đình Huệ, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó thủ tướng Chính phủ, Trưởng ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ chủ trì hội nghị. Tham dự hội nghị còn có đồng chí Nguyễn Tấn Dũng, nguyên Thủ tướng Chính phủ; đồng chí Trương Vĩnh Trọng, nguyên Phó thủ tướng Chính phủ.

ĐBSCL không còn là vùng đất trù phú

ĐBSCL có vị trí đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam. Nơi đây được đánh giá là một trong ba châu thổ lớn của thế giới, đa dạng hệ sinh thái và là vùng đất trù phú mang lại sinh kế lâu đời cho gần 20 triệu dân. Tuy nhiên, trước tác động của BĐKH, nó không còn là miền đất thuận lợi cho người dân phát triển sản xuất như bao đời nay.

Theo cảnh báo của các chuyên gia, hiện tại và trong tương lai, ĐBSCL phải đối diện ít nhất với hai thách thức toàn cầu. Cụ thể là thách thức khu vực và thách thức từ chính sự khai thác tài nguyên. Các thách thức toàn cầu, khu vực và tại địa bàn không tác động riêng lẻ mà cùng nhau, liên hoàn, nhân lên hậu quả của các tác hại. Thống kê từ Bộ NN&PTNT, cuối năm 2015, đầu năm 2016, ĐBSCL đã chịu đợt khô hạn và xâm nhập mặn lớn nhất từ trước tới nay, khiến cho tốc độ tăng trưởng, năng suất, diện tích sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản đều giảm, ước tính thiệt hại trong 6 tháng đầu năm là gần 4.700 tỷ đồng.

Kịch bản BĐKH và nước biển dâng mà Bộ Tài nguyên và Môi trường chỉ ra cũng cho thấy, trong những năm qua, nhiệt độ quan trắc có xu thế tăng ở các trạm trên khu vực ĐBSCL. Mức tăng phổ biến của nhiệt độ trung bình khu vực vào khoảng 0,25 đến 0,7 độ C trong 50 năm gần đây. Cùng với nhiệt độ tăng, tình trạng BĐKH trên toàn cầu ngày càng rõ nét, dẫn đến phá vỡ quy luật tự nhiên của các mùa; tần suất và cường độ của các hiện tượng thời tiết, khí hậu cực đoan như nắng nóng, hạn hán, xâm nhập mặn và lũ lụt ngày càng gia tăng.

Trong tương lai, riêng ĐBSCL, mực nước biển dâng có thể làm cho các khu vực lớn ven biển biến mất hoặc thường xuyên bị ngập. Tỷ lệ diện tích ngập từ 12,8-37,8%, thời gian ngập sẽ kéo dài hơn. Ngoài ra, diện tích đất canh tác thường xuyên bị xâm nhập mặn là 676.000ha, trong tổng số 1,7 triệu héc-ta đất nông nghiệp. Vào mùa khô, diện tích đất bị tác động của thủy triều gây xâm nhập mặn có thể lên đến gần 1 triệu héc-ta. Dự báo năm 2020-2059, xâm nhập mặn sẽ lấn sâu 129km trên sông Vàm Cỏ Tây. Riêng hiện tượng xói lở đất lên đến 500ha/năm và khó có khả năng phục hồi. Cấu trúc dòng chảy trong năm thay đổi, lũ có xu thế giảm và theo dự báo, 45% diện tích ĐBSCL có thể bị nhiễm mặn vào năm 2030.

Việc tăng cường các hoạt động khai thác tài nguyên nước trên thượng nguồn, nhất là hoạt động khai thác thủy điện trên dòng chính sông Mê Công đã ảnh hưởng đến dòng chảy, làm chuyển nước sang lưu vực sông khác. Điều này làm trầm trọng thêm nguy cơ cạn kiệt nguồn nước.

leftcenterrightdel
Hạn mặn làm cho các kênh rạch tại huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng không còn một giọt nước.

GS, TS Nguyễn Ngọc Trân, nguyên Chủ nhiệm Chương trình cấp Nhà nước "Điều tra cơ bản tổng hợp ĐBSCL", khẳng định: Chính việc khai thác tài nguyên một cách vô ý thức và những mô hình phát triển nông nghiệp đang làm nghèo ĐBSCL, đồng thời gây cản trở việc ứng phó với BĐKH. Lý giải vấn đề này, GS, TS Nguyễn Ngọc Trân cho rằng: “Mô hình phát triển nông nghiệp không đúng cách đang gây kiệt quệ tài nguyên đất, lãng phí tài nguyên nước; khai thác tài nguyên bất hợp lý sẽ dẫn đến tình trạng mất rừng ngập mặn, mất rừng tràm, đa dạng sinh học, chuỗi dinh dưỡng và môi trường vùng ngập nước trở nên nghèo nàn; tình trạng khai thác cát và mạch nước ngầm một cách bừa bãi dẫn đến tình trạng thâm hụt cán cân trầm tích và dễ dẫn đến sụt lún”.

Trước những diễn biến cực đoan của thời tiết và tác động của con người, nhiều chuyên gia lo ngại “vựa lúa, thủy sản của cả nước” sẽ không còn. Lượng nước và chất lượng nước, cả vấn đề trầm tích, phù sa và đa dạng sinh học mà hàng thế kỷ mới có thể gây dựng được của ĐBSCL cũng đang bị đe dọa.

Thay đổi nhận thức, tìm cách thích nghi

Trước thực trạng BĐKH đang ngày càng khắc nghiệt, bên cạnh việc phải nhận thức rõ hơn nước không còn là vô tận nên phải sử dụng một cách tiết kiệm và hiệu quả, thì cũng cần phải coi nước mặn không phải là kẻ thù mà là một dạng tài nguyên.

GS, TS Nguyễn Ngọc Trân cho rằng: Trong lưu vực sông Mê Công gồm có sáu nước, nhưng chỉ duy nhất ĐBSCL là tiếp giáp với biển, đây là một nét đặc thù. Vì vậy, ngay lúc này cần phải thay đổi nhận thức. Thứ nhất, phải xem nước sông Mê Công là tài sản chung của các quốc gia trong lưu vực; thứ hai là sự khan hiếm nước ngọt, nước ngọt không còn là của “trời cho” và những tình huống cực đoan sẽ xảy ra nhiều hơn trong tương lai; thứ ba, tại vùng phải chung sống với nước mặn nên xem đây là một dạng tài nguyên cần được khai thác; thứ tư, vùng ĐBSCL ứng phó với BĐKH và phát triển phải đặt trong bối cảnh có nhiều yếu tố bất định, và thứ năm là phải khắc phục những bất cập trong quản lý nhà nước. Đó là những điều kiện tiên quyết để ĐBSCL phát triển và đi tới.

Chuyên gia về sinh thái ĐBSCL Nguyễn Hữu Thiện nhận định: “Không cần làm các công trình lớn ngăn mặn vì nếu làm sẽ tạo ra tác động ngược khi mà chế độ “nước lớn”, “nước ròng” đã hình thành ra hệ sinh thái giữa đất liền và biển, tạo nên vùng đồng bằng phì nhiêu như ĐBSCL. Ngoài ra, trước khi tiến hành các công trình lớn, nên nghiên cứu kỹ bài học “được và mất” của công trình Cống đập Ba Lai khi ngăn dòng Ba Lai, một trong tám cửa sông chính của ĐSBCL. Do đó, để đối phó với BĐKH nên làm công trình cống, đập nhỏ trong vùng”.

Nguyên Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng, nguyên Trưởng ban Chỉ đạo quốc gia về thích ứng với BĐKH bày tỏ: Đảng, Nhà nước đã đưa ra chủ trương, giải pháp về ứng phó với BĐKH, phát triển sinh kế trong giai đoạn mới thì đòi hỏi ta phải nỗ lực vượt qua để ĐBSCL tiếp tục phát huy tiềm năng, lợi thế để phát triển nhanh, bền vững, công nghiệp hóa, hiện đại hóa phát triển đất nước.

Tiến sĩ Trần Hồng Hà, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường đề xuất: “Chúng ta cần thay đổi tư duy phát triển. Chúng ta không thể dựa vào sự ưu đãi của thiên nhiên ban tặng mà cần dựa vào trí tuệ, tri thức và công nghệ để phát triển bền vững. Biến thách thức do BĐKH để ĐBSCL phát triển lâu dài”.

Phát biểu tại hội nghị, đồng chí Vương Đình Huệ yêu cầu Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ NN&PTNT và Bộ Kế hoạch và Đầu tư căn cứ vào kết quả hội nghị để cập nhật kịch bản BĐKH, hoàn thiện các quy hoạch tổng thể, quy hoạch phát triển cơ sở hạ tầng, kinh tế, xã hội, trong đó chú trọng phát triển đô thị, công nghiệp hóa, nông nghiệp. Các chương trình, dự án tận dụng được cơ hội, hạn chế thách thức để phát triển. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính bố trí, rà soát nguồn lực cho các công trình trong kế hoạch đầu tư công, kể cả ngân sách, vốn ODA, trái phiếu, các nguồn khác cho những công trình trong vùng dự kiến là 22.000 tỷ đồng, chiếm 47% nguồn lực 3 vùng Tây Nguyên, Nam Trung Bộ và Tây Nam Bộ. Các địa phương đưa kịch bản và kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của mỗi địa phương trong mỗi tiểu vùng. Chính phủ khuyến khích các tỉnh, thành phố chủ động đưa kịch bản này trong mỗi địa phương và trong mỗi tiểu vùng.

Bài và ảnh: THÚY AN