Trao đổi với phóng viên, bà Nguyễn Thị Thanh Mai, Quyền Trưởng ban Thống kê dân số và lao động, Cục Thống kê đã phân tích bức tranh chung về dân số, lao động, việc làm năm 2025, đồng thời nhấn mạnh các định hướng ưu tiên trong phát triển nguồn nhân lực thời gian tới.

Phóng viên (PV): Bà có thể cho biết tình hình chung về dân số Việt Nam năm 2025?

Bà Nguyễn Thị Thanh Mai: Năm 2025, tình hình dân số và việc làm của Việt Nam tiếp tục duy trì trạng thái ổn định. Dân số Việt Nam tiếp tục tăng nhưng tốc độ tăng có xu hướng chậm lại. Năm 2025, dân số trung bình của Việt Nam là 102,3 triệu người, tăng xấp xỉ 1% so với năm 2024.

Bà Nguyễn Thị Thanh Mai. Ảnh: MINH ĐỨC 

Cơ cấu dân số tiếp tục chuyển dịch theo hướng già hóa khi nhóm người trẻ (0-14 tuổi) giảm, tỷ trọng nhóm 60 tuổi trở lên tăng, song nhóm dân số trong độ tuổi lao động (15-59 tuổi) vẫn chiếm tỷ trọng cao (62,7%), cho thấy Việt Nam vẫn đang trong giai đoạn cơ cấu dân số vàng.

PV: Đối với vấn đề lao động, việc làm, đâu là những điểm nổi bật trong năm 2025, thưa bà?

Bà Nguyễn Thị Thanh Mai: Về lao động, việc làm, thị trường lao động tiếp tục ổn định và ghi nhận nhiều dấu hiệu tích cực trong cả năm. Lao động có việc làm tính chung cả năm 2025 đạt 52,4 triệu người, tăng 578,3 nghìn người (tương ứng tăng 1,12%) so với năm 2024 và tăng chủ yếu ở khu vực thành thị. 

Cơ cấu lao động có việc làm năm 2025 tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa và phát triển dịch vụ. Khu vực dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn nhất với 40,8%, tiếp đến là khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 33,5%, trong khi khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm xuống còn 25,7%. Xu hướng này phù hợp với mục tiêu chuyển dịch cơ cấu lao động gắn với tăng trưởng và nâng cao năng suất của nền kinh tế.

Về chất lượng lao động, tính chung năm 2025, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ ước đạt 29,2%, tăng 0,9 điểm phần trăm so với năm trước, qua đó đạt mục tiêu về lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ (29-29,5%) trong Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2025.

Năm 2025, số lao động có việc làm phi chính thức là 33,1 triệu người, chiếm 63,1% tổng số lao động có việc làm, giảm 1,4 điểm phần trăm so với năm 2024. Mặc dù tỷ trọng này vẫn ở mức cao, xu hướng giảm cho thấy những tín hiệu tích cực của thị trường lao động theo hướng từng bước chính thức hóa. Tính chung trong năm 2025, thu nhập bình quân tháng của người lao động cũng được cải thiện, với mức trung bình là 8,4 triệu đồng/người/tháng, tăng 8,9%, tương ứng tăng 685 nghìn đồng/người/tháng so với năm trước.

Tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm tiếp tục duy trì ở mức thấp, với khoảng 1,06 triệu người trong độ tuổi lao động thất nghiệp và khoảng 772,5 nghìn người trong độ tuổi này thiếu việc làm. Tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm trong độ tuổi lao động tương ứng là 2,22% và 1,65%.

PV: Thị trường lao động năm 2025 nhìn chung khá ổn định nhưng vẫn xuất hiện một số dấu hiệu cần theo dõi thêm, như tỷ lệ thất nghiệp thanh niên cũng như tỷ lệ thanh niên không làm việc và không tham gia học tập, đào tạo còn khá cao. Bà có thể phân tích rõ hơn về vấn đề này?

Bà Nguyễn Thị Thanh Mai: Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên từ 15 đến 24 tuổi trong quý IV-2025 ở mức 9,04%, cao hơn đáng kể so với tỷ lệ thất nghiệp chung. So với quý trước và cùng kỳ năm trước, tỷ lệ này tăng tương ứng là 0,06 điểm phần trăm và 1,1 điểm phần trăm.

Có khoảng 1,4 triệu thanh niên từ 15 đến 24 tuổi không có việc làm và không tham gia học tập, đào tạo (chiếm 10,2% tổng số thanh niên), tăng 124,3 nghìn người so với cùng kỳ năm trước.

Tỷ lệ thanh niên thất nghiệp, thanh niên không có việc làm và không tham gia học tập, đào tạo ở Việt Nam vẫn duy trì ở mức cao, phản ánh những khó khăn của thanh niên trong quá trình tìm kiếm việc làm.

PV: Theo bà, chúng ta cần ưu tiên những định hướng nào về phát triển nguồn nhân lực để góp phần thực hiện các mục tiêu tăng trưởng trong giai đoạn tới?

Bà Nguyễn Thị Thanh Mai: Trong bối cảnh dư địa của thời kỳ cơ cấu dân số vàng ngày càng thu hẹp, tăng trưởng kinh tế không thể tiếp tục dựa chủ yếu vào mở rộng quy mô lao động mà cần dựa nhiều hơn vào nâng cao trình độ kỹ năng, kỷ luật lao động và hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực. Theo đó, chính sách cần ưu tiên nâng cao chất lượng giáo dục-đào tạo, đặc biệt là đào tạo nghề và đào tạo đại học, gắn chặt với nhu cầu của thị trường lao động và yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại; đồng thời tập trung đào tạo, thu hút và giữ chân đội ngũ nhân lực chất lượng cao, nhân lực số, trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu và công nghệ lõi phục vụ các ngành kinh tế mũi nhọn, phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW.

Song song với đó, cần đẩy mạnh các giải pháp chính thức hóa lao động phi chính thức, mở rộng bao phủ an sinh xã hội cho người lao động. Theo đó, cần triển khai đồng bộ các giải pháp tiếp tục hỗ trợ và khuyến khích hộ kinh doanh, cơ sở sản xuất nhỏ chuyển sang khu vực chính thức, đồng thời mở rộng khả năng tiếp cận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp theo hướng linh hoạt, phù hợp với đặc thù của lao động phi chính thức.

Sản xuất tại Công ty Cổ phần Xuân Hòa Việt Nam, Phú Thọ. Ảnh: MINH ĐỨC 

Điểm đáng quan tâm tiếp theo là ưu tiên giải quyết vấn đề việc làm cho thanh niên, cần tập trung tăng cường đào tạo nghề, đào tạo chuyên môn gắn với thực hành, mở rộng các chương trình thực tập, học nghề tại doanh nghiệp, đồng thời nâng cao hiệu quả công tác hướng nghiệp và kết nối cung-cầu lao động cho nhóm thanh niên. Đồng thời chủ động thích ứng với già hóa dân số và khai thác hiệu quả lực lượng lao động trung niên, cao tuổi. Điều này đòi hỏi tăng cường các chương trình đào tạo lại, nâng cao kỹ năng, cải thiện điều kiện làm việc và tổ chức lao động linh hoạt, qua đó tận dụng kinh nghiệm, kỹ năng tích lũy của lực lượng lao động lớn tuổi để duy trì, nâng cao năng suất chung của nền kinh tế.

Đặc biệt, cần nâng cao chất lượng thông tin thị trường lao động và công tác dự báo nguồn nhân lực. Đây là cơ sở quan trọng để hoạch định chính sách phát triển nguồn nhân lực, định hướng đào tạo và sử dụng lao động hiệu quả, phục vụ mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững trong giai đoạn tới.

PV: Trân trọng cảm ơn bà!