Chất độc da cam dai dẳng với sức tàn phá ghê gớm khiến nhiều người và cả con cháu họ phải sống trong đau đớn, bệnh tật và nghèo khó. Đâu đó trong đời sống, mỗi hình ảnh như vậy luôn làm ta đau nhói và không thể nào quên. Trường hợp bà Nguyễn Thị Hường nuôi ba người con tâm thần ở thôn Kiều Đông (Đại Xuyên, Phú Xuyên, Hà Tây) mà chúng tôi gặp là một ví dụ.
Hoàn cảnh của bà Hường cùng các con được chúng tôi biết đến nhờ thông tin của một cộng tác viên gửi thư về tòa soạn. Bà và các con cũng đã được nhận quà nhân dịp làm từ thiện trong cuộc đua xe đạp “Về Trường Sơn-2007” do báo Quân đội nhân dân tổ chức vừa qua. Tiếp chúng tôi trong căn nhà ba gian, có một phần tiền trợ giúp của Hội cựu chiến binh xã Đại Xuyên và
 |
|
Bà Nguyễn Thị Hường cùng ba người con trước căn nhà. |
Hội cựu chiến binh huyện, giờ đã xuống cấp. Trên mái nhà, những tia nắng xuyên qua kẽ ngói bở bục chiếu xuống nền nhà bằng đất, bốc lên thứ mùi ngai ngái, mông mốc. Khi mưa, nền nhà lại nhão nhoét vì dột. Căn nhà tuềnh toàng, chẳng có vật dụng gì đáng giá này là nơi
“chui ra, chui vào” của chín con người: bà Hường, ba người con tâm thần, một người con dâu “
ẩm ương” và bốn đứa cháu, trong đó một đứa đã bắt đầu có biểu hiện giống bố.
Làm người đã được 68 năm, đời bà Hường đong đầy nước mắt. Chồng bà, ông Dương Văn Cưởng, sau những năm tháng chiến đấu ở chiến trường miền Nam, trở về với một cơ thể không mấy lành lặn. Rồi lần lượt ba đứa con ngơ ngác chào đời. Con thứ hai còn đang ngậm vú, thì thằng anh bỗng trở nên ngây dại, chỉ biết ngoẹo đầu mà cười. Rồi vừa cai sữa đứa em thì con chị lại giống y anh nó. Bà Hường hoảng loạn, ông Cưởng vái van trời đất cho thằng út được bình thường, vậy mà cũng không thoát khỏi “định mệnh”. Binh, sau một cơn co giật cũng nghiễm nhiên trở thành đồ đệ của thế giới… chẳng biết buồn. Con cười mà cha mẹ khóc. Nhiều lúc đau đớn, tủi phận, bà Hường muốn lao đầu chết quách cho xong, nhưng nghĩ đến những đứa con oan nghiệt, tội tình bà lại không đành. Ông Cưởng khuyên vợ “chúng nó đầu thai làm người mà không trọn vẹn, mình phải thương nó mới phải” nhưng lòng thì đau như cắt. Miệng đời luôn dị nghị “kiếp trước ăn ở không đức nên kiếp này họa báo oan gia”. Hai vợ chồng cả ngày cứ gằm mặt chẳng dám nhìn ai, ngày ngày gắng gượng “đầu Nam cuối Bắc” kiếm tiền chạy chữa, nuôi con. Đến tuổi đi học, ông bà vẫn cố gắng gửi chúng đến lớp, may ra lúc tỉnh vẫn học được con chữ cho đời đỡ khổ. Thế nhưng, vào lớp, khi chúng phá phách, khi lại ngồi chống bút, khóc, không đứa nào qua nổi lớp một. Ban ngày, nhiều khi chúng tản đi khắp nơi. Có lúc đi nhớ được nhà, những lúc ham vui lại chẳng biết đường về. Nhiều đêm trời mưa, giọng bà Hường tìm con não ruột xóm trên, tiếng ông Cưởng thống thiết xóm dưới: “Binh ơi, Lượt ơi, Vương ơi”-một thứ âm thanh buồn bã như tiếng cuốc gọi bầy. Bà Hường bảo: “Biết bao lần chúng té hụt được người ta lôi lên. Chúng chết thì tôi ân hận suốt đời”. Đến bữa, nhiều khi ông bà thường phải đi tìm. Nặng nhất vẫn là người con trai út. Lúc nào không thích ăn thì ăn đổ ăn tháo hoặc cầm bát ném ra sân hay đứng ngoài đường ném gạch vào nhà. Lượt-cô con gái thứ hai-trong những đợt đi lang thang có bầu, sinh được hai đứa con, một trai, một gái. May mắn thay hai đứa bé bình thường. Đó cũng là niềm vui an ủi lúc tuổi già cho bà Hường. Chúng lúc nào cũng quấn bà và rất sợ mẹ, bởi đã nhiều lần lên cơn, Lượt cầm cả hộp sữa phang vào đầu con, nếu không có bà vào ngăn kịp chắc đứa bé đã bị đánh chết. Người con cả Dương Văn Vương cũng đã nhiều lần làm bà con xung quanh khiếp đảm bởi cầm dao rượt bố hoặc bật máy lửa châm lên mái nhà hàng xóm. Dương có vợ nhưng vợ đầu óc cũng có vấn đề, sinh được hai đứa con thì đứa đầu bắt đầu có những biểu hiện giống bố. Vậy là một thế hệ nữa lại quẩn quanh, bao nhiêu gánh nặng cứ thế trút lên vai bà Hường.
Đến năm 2005, ông Cưởng phải nhập viện do chất độc tạo thành khối u trong gan và ngấm vào thành mạch, chỉ sau một tháng phát bệnh là mất. Đối với bà Hường, đó là một nỗi đau không gì bù đắp được. Bà bảo: “Chẳng còn ông cháu, thế là chẳng còn ai than thở được một câu. Nhiều lúc tôi muốn chết đi còn hơn sống ở trên đời. Nhưng cứ nghĩ đến lời ông trước lúc nhắm mắt xuôi tay: bà nhớ lời tôi dặn, có gì thì cũng phải sống nuôi con. Bà chết là có tội với trời đất, có tội với bọn nhỏ. Tôi lại bừng tỉnh”. Sau nhiều ngày kiệt quệ về tâm, lực, đã có nhiều lời gợi ý bà nên gửi các con vào trại xã hội cho bớt gánh nặng, nhưng bà bảo: “Tôi còn sống một ngày thì trông nom các cháu cho trọn đời tôi. Cho các cháu đi, mẹ con mỗi người một nơi làm chi cho thêm tủi phận. Khi tôi nhắm mắt xuôi tay, các cháu không còn ai trông nom thì tôi nhờ Đảng, Nhà nước. Còn bây giờ, tôi vẫn sống, tôi khổ hay như thế nào vẫn phải cố gắng”.
Bà Hường nay đã yếu nhiều bởi sức lực đã bị những người con tâm thần mài mòn từng ngày. Đầu năm 2007, căn bệnh đau mật kinh niên của bà buộc bác sĩ phải cắt bỏ. Bây giờ, hằng ngày bà phải uống thuốc thay mật, các con bà vẫn đều đều uống thuốc hỗ trợ thần kinh, khiến số tiền trợ cấp nạn nhân chất độc da cam của gia đình chẳng còn là bao. 6 sào ruộng khoán không người chăm sóc, sản lượng chỉ đủ ăn cho 3 tháng, còn lại phải đi đong. Mong ước của bà Hường bây giờ là “nhà mình có bể nước ăn, có chái bếp, nhà không dột nữa và trả được khoản nợ cũ hồi làm nhà để khi tôi ra đi, chúng sẵn đó để có thể tự thổi cơm nước ăn với nhau”.
Đâu đó trong ngõ ngách của cuộc sống vẫn còn nhiều cảnh đời bất hạnh. Nhưng chuyện của bà Hường có lẽ không còn bất hạnh nào bằng. Gần một đời người vượt lên số phận nuôi đàn con tâm thần. Thương vì họ rơi vào ngõ cụt, phục vì họ từ ngõ cụt mà ngoi lên. Chỉ có một điều làm chúng tôi day dứt, dẫu biết bệnh già là quy luật muôn đời của tạo hóa, nhưng sao không đến chậm hơn với bà Hường, khi những người con tội nghiệp kia đang cần bóng mát chở che. Và mẹ con bà cũng đang hằng ngày mong mỏi sự quan tâm, hỗ trợ của những tấm lòng nhân ái gần xa.
Bài, ảnh: KIM DUNG, TUẤN NAM