Tăng năng suất lao động dựa trên công nghệ, dây chuyền hiện đại

Tại Kỳ họp thứ bảy, Quốc hội khóa XIV, Chính phủ đã đề nghị Quốc hội mở rộng khung thỏa thuận giờ làm thêm tối đa lên 400 giờ/năm. Quy định hiện hành về khung thỏa thuận giờ làm thêm tối đa là 300 giờ. Khi ấy, trong Quốc hội cũng có hai luồng quan điểm. Một luồng nhất trí với tờ trình của Chính phủ vì xuất phát từ thực tiễn của doanh nghiệp và nguyện vọng của NLĐ để tăng thu nhập do tiền lương thực tế chưa đủ sống. Một luồng ý kiến không đồng ý mở rộng khung thỏa thuận giờ làm thêm tối đa vì cho rằng phải hướng tới mục tiêu tăng năng suất lao động (NSLĐ), cải tiến công nghệ, quản trị doanh nghiệp, bảo đảm sức khỏe NLĐ về lâu dài, phù hợp với xu hướng tiến bộ của thế giới, phù hợp với mục tiêu của phong trào công nhân, công đoàn thế giới, quan hệ lao động trong thời kỳ mới.

Tại Phiên họp thứ 36, UBTVQH cũng không nhất trí với đề xuất mở rộng khung thỏa thuận giờ làm thêm tối đa. Tuy nhiên, Chính phủ vẫn mong muốn trình Quốc hội phương án mở rộng khung thỏa thuận giờ làm thêm tối đa.

leftcenterrightdel

Công nhân Công ty TNHH Bluecom Vina (Khu công nghiệp Tràng Duệ, TP Hải Phòng) trong dây chuyền sản xuất thiết bị điện thoại. Ảnh: DANH NAM

Cho ý kiến về nội dung này, Tổng thư ký Quốc hội-Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Nguyễn Hạnh Phúc nhấn mạnh quan điểm, tăng NSLĐ không phải chỉ dựa vào sức người, mà phải dựa vào sự đổi mới về công nghệ sản xuất. Việc không cho phép tăng thời giờ làm thêm sẽ khiến các doanh nghiệp phải nghĩ đến việc đổi mới, ứng dụng công nghệ hiện đại trong sản xuất kinh doanh. Theo Tổng thư ký Quốc hội, NLĐ trong các lĩnh vực sản xuất da giày, may mặc hiện nay đã rất khổ, nhất là phụ nữ không còn thời gian chăm sóc gia đình, con cái. Nếu tăng thời gian làm thêm tối đa lên 400 giờ, họ sẽ càng vất vả. “Giờ về đến nhà chỉ lăn ra ngủ thôi, còn không làm được việc gì nữa đâu, nên đề nghị quan tâm đến NLĐ”, Tổng thư ký Quốc hội nói.

Cùng nhất trí giữ nguyên quan điểm của UBTVQH tại phiên họp trước, Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Nguyễn Văn Giàu và Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Hà Ngọc Chiến cho rằng, việc tăng khung thỏa thuận giờ làm thêm là đi ngược lại với xu hướng tiến bộ của thế giới và lộ trình của nước ta. Nước ta cần phấn đấu để giảm thời gian lao động nhưng vẫn bảo đảm về đời sống, y tế, chăm sóc sức khỏe… cho NLĐ, chứ không phải tăng giờ làm thêm cho NLĐ.

Nhắc lại những luồng quan điểm từ phía NSDLĐ mong muốn tăng giờ làm thêm để giảm chi phí thuê nhân công lao động, từ đó giảm giá thành sản phẩm, Trưởng ban Dân nguyện Nguyễn Thanh Hải cho rằng đó cũng chỉ là lợi ích của NSDLĐ. NLĐ là bên yếu thế hơn, chủ yếu bày tỏ nguyện vọng qua tổ chức công đoàn. Giữ vững quan điểm không đồng ý tăng khung thỏa thuận giờ làm thêm, Trưởng ban Dân nguyện nói nhu cầu của NLĐ là muốn có tinh thần sảng khoái, thể lực tốt để có NSLĐ cao, có đời sống tốt để sản xuất tốt.

Thời gian làm việc thực tế của Việt Nam thuộc nhóm cao nhất thế giới

Theo Phó chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam Ngọ Duy Hiểu, thời gian làm việc danh nghĩa của Việt Nam đã ở mức khá cao, thời gian làm việc thực tế của NLĐ Việt Nam còn thuộc nhóm cao nhất thế giới. Thời gian nghỉ phép của NLĐ ở Việt Nam hiện nay là 12 ngày, trong khi thời gian nghỉ phép theo công ước quốc tế là không dưới 3 tuần. Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đã có khuyến nghị về việc thực hiện chế độ làm việc 40 giờ/tuần. Ngay cả tuyên bố thế kỷ về tương lai việc làm năm 2019 của ILO cũng nhắc đến việc hạn chế sử dụng giờ tối đa, hài hòa lợi ích và cuộc sống của NLĐ.

Trước những ý kiến quan ngại về năng lực cạnh tranh quốc gia bị giảm sút khi không tăng khung thỏa thuận giờ làm thêm, ông Ngọ Duy Hiểu lấy ví dụ: Trung Quốc đã thực hiện 40 giờ lao động từ rất lâu; thực hiện chế độ 21 ngày nghỉ trong năm, riêng Quốc khánh Trung Quốc, NLĐ được nghỉ một tuần. Điều đó có ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh quốc gia và NSLĐ của Trung Quốc không?

Một số đại biểu phát biểu tại phiên họp đã lưu ý tới hậu quả xã hội của việc NLĐ làm việc quá sức. Các đại biểu dẫn nghiên cứu của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội cho thấy, thời gian làm việc càng kéo dài thì nguy cơ tai nạn lao động càng tăng và NSLĐ càng thấp đi. Thống kê của Bộ Y tế cho thấy, sau 5 năm, tỷ lệ người đang thuộc nhóm sức khỏe loại 1 chuyển sang loại 4, loại 5 tăng lên hơn 8,5%; số người nghỉ phép vì lý do sức khỏe theo thống kê của Bộ Y tế cũng tăng lên gần gấp rưỡi sau 7 năm. Thực tế đã có nhiều nữ công nhân không có thời gian tìm kiếm bạn đời hoặc không còn thời gian chăm sóc con cái, dẫn tới chứng bệnh tự kỷ, suy dinh dưỡng của trẻ em.

Dẫn phát biểu của một lãnh đạo Hiệp hội Da giày Việt Nam trả lời phỏng vấn báo chí về việc không đồng tình với đề xuất giảm giờ làm và vì thiếu lao động nên doanh nghiệp phải tuyển cả NLĐ ở tuổi 50, các đại biểu nêu câu hỏi: Các doanh nghiệp không mong muốn sử dụng NLĐ ở độ tuổi 50, vậy tương lai của NLĐ sẽ như thế nào khi họ bước sang tuổi 50? An sinh của họ ra sao, lương hưu của họ thế nào khi thời gian đóng bảo hiểm không đủ theo quy định? NLĐ hầu hết lo không đủ sức khỏe làm việc ở độ tuổi 60. Thực tế hiện nay, nhiều trường hợp NLĐ mới 40, 45 tuổi đã bị NSDLĐ tìm đủ cách để sa thải.

Trước quan điểm rõ ràng, nhất quán của các ủy viên UBTVQH về việc không đồng ý tăng thời giờ làm thêm, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân đề nghị sẽ trình Quốc hội cả hai phương án về khung thỏa thuận giờ làm thêm. Phương án thứ nhất là không tăng theo đề nghị của UBTVQH. Phương án thứ hai là tăng theo đề nghị của Chính phủ.

Kết luận nội dung này, Phó chủ tịch Thường trực Quốc hội Tòng Thị Phóng lưu ý thêm, trong hoạt động tiếp xúc cử tri tới đây, các đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội cần tiếp xúc với các doanh nghiệp, NSDLĐ và công nhân, NLĐ thuộc các lĩnh vực sản xuất để báo cáo với Quốc hội.

Sau phiên họp này, dự án Bộ luật Lao động (sửa đổi) sẽ tiếp tục được tiếp thu, chỉnh lý, hoàn thiện một lần nữa trước khi trình Quốc hội cho ý kiến và thông qua tại Kỳ họp thứ tám sắp tới.

THÙY DƯƠNG