Những kiến nghị này cho thấy một thực tế rõ ràng: Khi mức giảm trừ không theo kịp đời sống, thuế có thể đã chạm vào cả phần thu nhập chỉ đủ để sống.

Hiện mức giảm trừ gia cảnh đối với đối tượng nộp thuế là 15,5 triệu đồng/tháng (186 triệu đồng/năm); mức giảm trừ đối với mỗi người phụ thuộc là 6,2 triệu đồng/tháng. Tuy nhiên, trong bối cảnh giá cả sinh hoạt, đặc biệt là nhà ở, y tế, giáo dục liên tục tăng, mức giảm trừ này bộc lộ rõ sự lạc hậu so với thực tế chi tiêu. Bên cạnh đó, quy định này chưa tính đến sự khác biệt lớn về chi phí sống giữa các vùng, nhất là đô thị và nông thôn, làm giảm tính công bằng.

Người dân nộp thuế tại Cục Thuế Hà Nội. Ảnh minh họa: TTXVN

Dẫn thực tế chi phí của đối tượng phụ thuộc là một sinh viên đang theo học đại học, đại biểu Nguyễn Thị Yến Nhi (đoàn Vĩnh Long) cho rằng mức chi tối thiểu cho học phí, học tập, thuê trọ và sinh hoạt cơ bản tại đô thị hiện nay khó có thể dưới 10 triệu đồng/tháng. Trong khi đó, với mức giảm trừ gia cảnh hiện hành là 6,2 triệu đồng/tháng cho người phụ thuộc, nhiều gia đình có thu nhập trung bình nhưng có 2 con học đại học vẫn có thể rơi vào diện phải nộp thuế thu nhập cá nhân, dù thực tế chỉ mới bảo đảm mức sống tối thiểu. Từ thực tiễn đó, đại biểu đề nghị thời gian tới cần tiếp tục đánh giá để nâng mức giảm trừ gia cảnh, không chỉ đối với người phụ thuộc mà cả đối với bản thân người nộp thuế.

Đại biểu cũng kiến nghị nghiên cứu xây dựng mức giảm trừ có sự phân hóa theo từng nhóm người phụ thuộc như trẻ nhỏ, người cao tuổi, sinh viên..., nhằm phản ánh đúng hơn nhu cầu chi tiêu thực tế. Cùng với đó, cần xem xét bổ sung các khoản chi được khấu trừ riêng như chi phí y tế, giáo dục, học phí, đào tạo chính quy, qua đó vừa giảm áp lực thuế cho người dân, vừa góp phần khuyến khích đầu tư cho nguồn nhân lực chất lượng cao.

Đề xuất phân hóa mức giảm trừ theo từng nhóm người phụ thuộc là một hướng đi đáng chú ý. Trẻ nhỏ, sinh viên, người cao tuổi-mỗi nhóm có nhu cầu chi tiêu khác nhau, không thể “cào bằng” trong một con số chung. Đây không chỉ là câu chuyện kỹ thuật chính sách mà còn là cách tiếp cận linh hoạt, phản ánh đúng bản chất đa dạng của đời sống xã hội. Bên cạnh đó, việc tính đến các khoản khấu trừ riêng như chi phí y tế, giáo dục, đào tạo cũng cần được nhìn nhận nghiêm túc. Đây là những khoản chi mang tính đầu tư dài hạn cho con người-yếu tố quyết định chất lượng nguồn nhân lực quốc gia. Nếu chính sách thuế biết “chia sẻ” với những khoản chi này không chỉ giảm gánh nặng trước mắt cho người dân mà còn góp phần tạo nền tảng phát triển bền vững.

Thuế thu nhập cá nhân, về bản chất phải bảo đảm nguyên tắc công bằng và nhân văn. Người nộp thuế chỉ nên đóng góp khi họ thực sự có phần thu nhập vượt trên mức bảo đảm đời sống tối thiểu. Một chính sách thuế tốt không chỉ bảo đảm nguồn thu ngân sách mà còn là thước đo của sự thấu hiểu và đồng hành của chính sách đối với người dân.