I - Dạy tiếng Việt

Dạy học tiếng Việt cho học sinh vùng dân tộc thiểu số chưa biết nói tiếng Việt đang là yêu cầu bức thiết đặt ra đối với toàn ngành giáo dục nói chung và giáo dục tiểu học nói riêng. Dạy học tiếng Việt cho những đối tượng này là chúng ta đang góp phần vào chương trình phổ cập giáo dục tiểu học trên phạm vi cả nước.

Trẻ em tiểu học huyện Đồng Văn-Hà Giang. Ảnh: Trường Giang

Nhiều nhà quản lý giáo dục có chung nhận xét: Vùng dân tộc thiểu số là vùng đặc biệt khó khăn, đưa con chữ về được với bản, làng không phải chuyện đơn giản. Hơn nữa, nhiều năm qua, chúng ta vẫn chưa có sự quan tâm thỏa đáng tới việc dạy học cho những đối tượng này. Chính bởi vậy, số lượng học sinh đến lớp ít mà chất lượng cũng không bảo đảm. Đơn cử như tỉnh Lai Châu, một tỉnh có rất nhiều dân tộc chung sống. Bà Tẩn Mí Khá, Phó giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo cho biết, mặc dù đã có sự cố gắng vận động các em đến lớp để duy trì việc học, tuy nhiên chất lượng không bảo đảm, không ít học sinh sau khi học xong lớp một mà vẫn chưa biết đọc, biết viết. Theo thống kê năm 2008 của Sở Giáo dục tỉnh này thì tỉnh có tới 91% học sinh tiểu học là con em dân tộc thiểu số với nhiều ngôn ngữ khác nhau. Trong khi đó, thầy, cô giáo dạy tiếng Việt cho các em lại không hề biết tiếng dân tộc thiểu số hoặc biết ít, nên không hiểu các em nói gì… Mặc dù đã cố gắng vận động các em đến lớp để duy trì việc học, nhưng chất lượng không bảo đảm.

Cơ sở vật chất phục vụ cho việc học rất thiếu thốn, hầu hết các em đều phải học tập trong những ngôi trường cũ kỹ, tạm bợ, bàn ghế không đúng tiêu chuẩn, trang, thiết bị dạy và học hầu như không có. Hơn nữa, trường học lại cách xa nhà, các em không có điều kiện ở nội trú, việc di chuyển đến lớp học rất khó khăn. Chưa kể đến trường hợp có em phải bỏ học giữa chừng vì phải theo mẹ lên nương, nhiều em khi đến lớp học phải cõng theo em vào học cùng…

Thực hiện chủ trương phổ cập giáo dục tiểu học, khi triển khai tới các địa phương vùng dân tộc thiểu số đã nảy sinh tình trạng chất lượng học sinh không đạt yêu cầu để lên lớp. Nếu cứ cho lên lớp thì không đáp ứng lượng kiến thức đề ra dẫn đến tình trạng “ngồi nhầm lớp” hay “lên lớp gượng”. Nhưng nếu cho ở lại lớp thì không tiến hành phổ cập được giáo dục!...

 Chúng tôi đã nghe nhiều ý kiến của các nhà giáo và quản lý giáo dục về vấn đề này. Hầu hết đều kiến nghị đầu tư nhiều hơn nữa cho phát triển giáo dục miền núi, nhất là đối với vùng khó khăn, vùng dân tộc thiểu số. Sớm thực hiện đề án phổ cập một năm mẫu giáo 5 tuổi, xây dựng các trường học về tới tận thôn, bản. Có ý kiến cho rằng cần phát triển ngược lên mẫu giáo 3 tuổi, điều này sẽ tạo cho các em có kiến thức căn bản về tiếng Việt, tạo thuận lợi căn bản cho việc học tiếng Việt sau này.

 Đề cập đến vấn đề giáo án và phương pháp dạy tiếng Việt cho những đối tượng này, Tiến sĩ Nguyễn Thị Mai Phương, ở Vụ Giáo dục tiểu học cho biết: Khó khăn lớn nhất đối với các em vùng dân tộc thiểu số là chương trình dạy tiếng Việt cho các em không phù hợp. Chương trình tiếng Việt lớp 1 nói riêng cũng như cả cấp tiểu học nói chung là chung cho cả nước, theo chuẩn quốc gia. Sách giáo khoa chủ yếu biên soạn cho học sinh nói tiếng Việt với tư cách là tiếng mẹ đẻ, các em đã biết nghe, nói tiếng Việt. Trong khi đó giáo trình chung lại áp dụng cho cả học sinh vùng dân tộc thiểu số chưa biết nói tiếng Việt, ít nghe tiếng Việt.

Bà Võ Tuyết Trinh, Trưởng phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Thanh Chương, Nghệ An cho rằng: Song song với việc dạy tiếng Việt cho các em, chúng ta cũng phải tiến hành dạy tiếng dân tộc thiểu số cho các thầy, cô giáo. Hiện nay chương trình đang được đẩy nhanh trong tỉnh. Theo Trưởng bản Toong, xã Pi-toong, tỉnh Sơn La thì: So sánh với thời điểm chưa có dự án “Giáo dục trẻ em có hoàn cảnh khó khăn”, nay trẻ em đã thay đổi hoàn toàn, nói tiếng Việt tốt hơn, đi học thường xuyên hơn cũng như tự tin hơn…

Như vậy có thể thấy rằng, cần nhân nhanh nhiều biện pháp để mở rộng và nâng cao chất lượng, hiệu quả việc dạy tiếng Việt cho các em, giúp cho giáo dục miền núi phát triển vững chắc, tạo sự đồng đều về giáo dục ở các địa phương trong cả nước. 

(Còn nữa)

Bài II: HỌC CẢ NGÀY-HƯỚNG ĐI MỚI

TẠ THỊ DUNG