GS.TS Nguyễn Xuân Trục, Ủy viên ban chấp hành Hội Cầu đường Việt Nam .

Dưới góc độ một chuyên gia trong ngành giao thông đánh giá về Dự án xây dựng đường sắt cao tốc Hà Nội-Thành phố Hồ Chí Minh (ĐSCT), GS.TS Nguyễn Xuân Trục, Ủy viên ban chấp hành Hội Cầu đường Việt Nam cho rằng, trong tương lai cần có đường sắt cao tốc hiện đại, nhưng phải xem xét kỹ thời điểm bắt đầu cũng như nên thực hiện thí điểm trước khi làm toàn tuyến.

- Nền kinh tế-xã hội nước ta đang có những bước phát triển nhanh chóng, theo ông đây có phải là thời điểm thích hợp để xem xét chủ trương đầu tư dự án ĐSCT?

- Nước ta cần có một con đường sắt hiện đại, cao tốc là một chủ trương đúng đắn, nhưng khi nào làm, đã quyết định làm thì kế hoạch đầu tư như thế nào cho hợp lý, đó là điều cần phải cần nhắc. Trước hết, để có cơ sở quyết định khi nào nên làm phải giải quyết dữ liệu đầu vào, bởi vì nếu dữ liệu đầu vào không chính xác thì đầu ra không bảo đảm. Số liệu về nhu cầu hành khách đi trên ĐSCT phải tính cho từng thời kỳ, từng đoạn đường chứ không phải tính chung toàn tuyến từ Hà Nội đến Thành phố Hồ Chí Minh. Tôi đánh giá số liệu dự báo nhu cầu hành khách theo báo cáo đầu tư độ tin cậy chưa cao, vì phương pháp này dựa chủ yếu trên cơ sở mức tăng trưởng GDP, chỉ đúng với các nước có nền kinh tế phát triển đã ổn định. Ở nhiều nước, để bảo đảm số liệu về hệ số tăng trưởng lượng hành khách trung bình hằng năm chính xác, họ phải có ĐSCT đã, rồi dựa vào thống kê lượng hành khách trong 5 năm gần nhất mới đưa ra được. Nước ta chưa có ĐSCT nên lấy số liệu dựa vào nước ngoài.

Thời điểm này có thể xem xét đầu tư nhưng phải có sự tính toán nghiêm túc thì mới có cơ sở để quyết định. Để quyết định khi nào làm ĐSCT phải dựa trên số liệu nhu cầu hành khách, nếu làm ngay mà không tính toán là rủi ro cao.

- Trong báo cáo đầu tư có nói là sẽ thực hiện theo phân kỳ, làm từng chặng không phải làm một lúc toàn tuyến. Theo ông, phân kỳ đầu tư như thế nào là hợp lý?

- Nếu chúng ta quyết định xây dựng ĐSCT thì phải làm thí điểm trước. Bởi vì chúng ta chưa có ĐSCT bao giờ, phải làm một đoạn trước để xem dân ta có nhu cầu thật sự với phương tiện này hay không, hay là chọn phương tiện khác. Hơn nữa, đây là công trình lớn, tốn rất nhiều vốn, công nghệ hiện đại, điều kiện địa chất, địa hình rất phức tạp, cần điều tra khảo sát địa chất đến nơi đến chốn, nếu không đang làm mà gặp trở ngại có thể phá sản cả dự án. Với dự án lớn cần phải có đánh giá rủi ro, nghĩa là trong khi thực hiện những tính toán ban đầu không đúng như nhu cầu hành khách không như mong muốn, quá trình xây dựng trục trặc…

Theo tiến độ dự án, năm 2012 là bắt đầu khởi công, thực tế chỉ còn hơn một năm, để triển khai cần có chương trình, kế hoạch khảo sát, thiết kế, thời gian ngắn như vậy không làm nổi. Với một công trình phức tạp như ĐSCT, dự kiến đến năm 2020 bắt đầu khai thác cũng rất khó khả thi.

- Ông đánh giá như thế nào về hiệu quả kinh tế-xã hội khi do ĐSCT mang lại?

- Theo dữ liệu của báo cáo thì hiệu quả tài chính (FIRR) hay tỷ lệ nội hoàn rất thấp, chỉ có 2,4 đến 3%, nghĩa là 30 đến 40 năm mới hoàn vốn, trong khi tỷ lệ này phải 8 đến 10% mới được xem là có hiệu quả. Với tính toán như vậy, xin hỏi nếu cho nhà thầu Nhật Bản làm theo hình thức BOT (xây dựng, khai thác, chuyển giao) họ có dám làm không.

Nếu xét đến tác động kinh tế-xã hội, nhờ có ĐSCT mà phát triển kinh tế của các ngành, các địa phương thì báo cáo đánh giá tỷ lệ này rất cao. Nhưng hiện nay dọc đất nước từ Bắc vào Nam, đã thông qua Quy hoạch phát triển đường bộ cao tốc. Vì vậy, Bộ Giao thông vận tải khi làm ĐSCT phải có kế hoạch cân đối tất cả các công trình về giao thông và phải có sự công minh, khi đánh giá hiệu quả kinh tế-xã hội phải tính tổng hợp cả đường bộ cao tốc, ĐSCT và các loại hình vận tải khác. Phải phân biệt do đường sắt mang lại bao nhiêu, đường bộ mang lại bao nhiêu…

- Nếu sắp tới Quốc hội thông qua chủ trương đầu tư, sau đó tiếp tục làm báo cáo khả thi thì báo cáo đó cần chú trọng đến những vấn đề gì để dự án thật sự khả thi?

- Đầu tiên phải có số liệu dự báo chính xác, thẩm định dự án phải mời các nhà khoa học không chỉ trong mà còn ngoài ngành. Trong dự án phải đặt rõ ràng một khoảng kinh phí phòng ngừa rủi ro, trong trường hợp có rủi ro thì phương án giải quyết thế nào. Để tiếp thu công nghệ tiên tiến trên thế giới, chúng ta “đi tắt đón đầu” là đúng, nhưng phải nghĩ đến khả năng thực tế và phải làm thí điểm. Nếu Quốc hội thông qua chủ trương đầu tư phải tính toán đến tất cả các yếu tố một cách công minh, trước khi khởi công xây dựng dự án. 

- Xin cảm ơn ông!

Mạnh Hưng (thực hiện)