QĐND - Mới đây, các chuyên gia y tế thế giới đã cảnh báo về một nhóm siêu vi khuẩn có khả năng kháng nhiều loại thuốc kháng sinh, kể cả nhóm thuốc kháng sinh mạnh nhất chuyên dùng cho các ca cấp cứu và nhiễm trùng nặng do các vi khuẩn đa kháng thuốc khác gây ra. Thông tin này khiến cho nhiều người dân băn khoăn, lo lắng.
 |
|
Theo các nhà khoa học, vi khuẩn siêu kháng thuốc này đã có mặt tại Việt Nam. Ảnh tư liệu
|
Nghiên cứu này được các chuyên gia Trường Đại học Cardiff (thuộc xứ Wales), Cơ quan bảo vệ sức khỏe Anh và một số trường đại học quốc tế tiến hành. Vi khuẩn được đặt tên New Delhi Maetallo beta (NDM-1), vì liên quan đến nhóm bệnh nhân bị phát hiện trước đó đã đến Ấn Độ, Pa-ki-xtan chữa bệnh và quay về Anh thì có dấu hiệu nhiễm bệnh. Đến thời điểm này, các nhà khoa học mới chỉ định được khoảng 50 ca nhiễm siêu vi khuẩn, nhưng các nhà khoa học Anh lo ngại chúng sẽ lây lan ra toàn cầu.
Một số chuyên gia còn cho rằng, có khả năng men NDM-1 này có thể “nhảy” sang các chủng khác đã kháng với nhiều loại thuốc kháng sinh. Như vậy, có thể gây ra các bệnh nhiễm khuẩn nặng, có thể lây lan nhanh từ người sang người và khả năng chữa được rất thấp. Các ca nhiễm trùng NDM-1 cũng được ghi nhận ở một số nước như Mỹ, Ca-na-đa, Ô-xtrây-li-a, Phần Lan… vì thế đã có những cảnh báo về vấn đề này.
Còn ở Việt Nam, theo ghi nhận của các bác sĩ Viện các bệnh Truyền nhiễm và Nhiệt đới quốc gia: Loại “siêu vi khuẩn” vừa được các nhà khoa học trên thế giới phát hiện là một loại vi khuẩn tiết ra men (enzym) NDM-1. Loại men này có thể kháng lại hầu hết mọi loại thuốc kháng sinh, kể cả nhóm kháng sinh mạnh nhất là carbapenem. Do đặc tính chung của vi khuẩn có thể lây truyền rất mạnh qua giao lưu, tiếp xúc nên nguy cơ loại "siêu vi khuẩn" này thâm nhập vào nước ta là rất lớn. Đến thời điểm hiện nay ở nước ta hiện cũng đã ghi nhận một vài loại vi khuẩn tương tự có khả năng kháng tất cả loại kháng sinh. Phổ biến nhất là nhóm vi khuẩn gram âm đường ruột. Một số nghiên cứu tại các bệnh viện cho thấy, vi khuẩn kháng thuốc nhóm carbapenem chiếm tỷ lệ khá cao, khoảng 1 đến 4% chủng vi khuẩn gây bệnh đường ruột. Viện các bệnh Truyền nhiễm và Nhiệt đới quốc gia gần đây thi thoảng vẫn tiếp nhận các ca nhiễm loại vi khuẩn này. Trong những trường hợp này, các bác sĩ phải chọn cách "chữa đường vòng", áp dụng nhiều biện pháp, chọn các loại kháng sinh còn nhạy cảm, phối hợp nhiều kháng sinh, điều chỉnh liều thuốc... Tuy nhiên, chi phí điều trị rất cao, mà hiệu quả điều trị lại không bảo đảm.
Theo đại diện của Tổ chức Y tế thế giới tại Việt Nam: Không phải gần đây mới xuất hiện các vi khuẩn kháng thuốc. Theo quy luật chọn lọc tự nhiên, mỗi một loại kháng sinh mới khi đưa vào sử dụng một vài năm lại xuất hiện chủng vi khuẩn đột biến, kháng loại kháng sinh đó. Hiện tại các nhà khoa học vẫn chưa nhận thấy bất kỳ bằng chứng nào về sự lây lan của siêu vi khuẩn trong cộng đồng. Chính vì vậy, người dân không nên quá lo lắng về vấn đề này, tuy nhiên, cũng không vì thế mà chủ quan.
Tình trạng các vi khuẩn kháng với phần lớn các loại thuốc kháng sinh trong cộng đồng ngày một gia tăng là do việc sử dụng bừa bãi và không hợp lý các loại thuốc kháng sinh. Sử dụng thuốc không đúng ở đây bao gồm: Sử dụng quá nhiều loại thuốc; lạm dụng kháng sinh và thuốc kháng sinh dạng tiêm; kê đơn thuốc không theo hướng dẫn lâm sàng và việc tự dùng thuốc không hợp lý. Để kiểm soát và phòng ngừa loại siêu vi khuẩn có khả năng kháng nhiều loại thuốc kháng sinh cần tập trung vào 4 giải pháp chính sau:
Thứ nhất, giám sát sự kháng kháng sinh.
Thứ hai, sử dụng kháng sinh hợp lý, bao gồm cả việc giáo dục cho các nhân viên y tế và công chúng trong việc sử dụng kháng sinh thích hợp.
Thứ ba, quảng bá hoặc thực hiện luật ngăn chặn việc bán thuốc kháng sinh mà không có toa thuốc.
Thứ tư, tuân thủ nghiêm ngặt các biện pháp phòng ngừa và kiểm soát lây nhiễm, bao gồm việc rửa tay, đặc biệt trong các cơ sở y tế.
Về phía người dân, khi bị bệnh cần tuân thủ chỉ định điều trị của bác sĩ chuyên khoa, bảo đảm cung cấp đủ chất dinh dưỡng cho cơ thể hằng ngày và vệ sinh là đều rất cần thiết để tự bảo vệ mình.
Thạc sĩ Nguyễn Thu Hương