Nghịch lý của “vùng đất tỷ đô”
Ít có vùng kinh tế nào ở Việt Nam sở hữu nhiều lợi thế như ĐBSCL. Với chưa đầy 12% diện tích tự nhiên và khoảng 18% dân số cả nước, vùng đất này đang tạo ra hơn một nửa sản lượng lúa, gần hai phần ba sản lượng thủy sản nuôi trồng, khoảng 70% sản lượng trái cây và hơn 90% lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam. Đây là nền tảng quan trọng giúp ĐBSCL trở thành trung tâm sản xuất nông nghiệp hàng đầu, đóng góp đáng kể vào nguồn thu ngoại tệ của quốc gia.
Thế nhưng, phía sau những con số đầy tự hào ấy lại là một thực tế đáng suy ngẫm: Năng lực doanh nghiệp của vùng chưa phát triển tương xứng với vai trò và tiềm năng. Theo Báo cáo Kinh tế thường niên ĐBSCL 2025 do Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cùng Trường Chính sách Công và Quản lý Fulbright (FSPPM) công bố vào ngày 28-5-2026 chỉ ra rằng, ĐBSCL có nguồn nguyên liệu dồi dào, thị trường rộng mở, nhưng lại thiếu những doanh nghiệp đủ quy mô để tổ chức sản xuất lớn, đầu tư chế biến sâu, xây dựng thương hiệu và tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Sự thiếu hụt này đang trở thành một trong những điểm nghẽn quan trọng nhất của quá trình phát triển. Nhìn lại chặng đường phát triển khu vực kinh tế tư nhân, có thể thấy sự suy giảm tương đối của ĐBSCL trong bức tranh doanh nghiệp cả nước. Nếu năm 2000, khu vực này từng chiếm khoảng 25,3% tổng số doanh nghiệp tư nhân của Việt Nam thì đến năm 2005 giảm còn khoảng 12%, năm 2010 còn 8% và đến năm 2024 chỉ còn 7,1%. Tốc độ gia tăng doanh nghiệp chậm khiến từ năm 2023, ĐBSCL trở thành vùng có mật độ doanh nghiệp thấp nhất cả nước. Năm 2025, toàn vùng chỉ đạt khoảng 4,1 doanh nghiệp trên 1.000 dân. Đến đầu tháng 5-2026, số doanh nghiệp đang hoạt động trong toàn vùng mới đạt gần 70.000, một con số còn khiêm tốn so với quy mô dân số và vai trò kinh tế của khu vực.
 |
| Công nhân Nhà máy Sữa Cần Thơ đang đóng gói sản phẩm. |
Tuy nhiên, vấn đề của ĐBSCL không chỉ nằm ở số lượng doanh nghiệp mà còn ở quy mô và sức mạnh nội tại. Phần lớn doanh nghiệp trong vùng vẫn thuộc nhóm siêu nhỏ và nhỏ, hạn chế về vốn, công nghệ, năng lực quản trị và khả năng tiếp cận thị trường lớn. Các chuyên gia kinh tế cho rằng ĐBSCL đang thiếu một tầng lớp doanh nghiệp trung gian-những doanh nghiệp đủ lớn để trở thành cầu nối giữa khu vực sản xuất nhỏ lẻ và các tập đoàn lớn. Điều này tạo ra sự đứt gãy trong quá trình phát triển. Theo thống kê, khoảng 96% doanh nghiệp tại ĐBSCL hiện là doanh nghiệp siêu nhỏ và nhỏ, trong khi doanh nghiệp vừa chỉ chiếm khoảng 1,8%...
Đồng bằng sông Cửu Long cần làm gì?
Thực tế phát triển của ĐBSCL trong nhiều năm qua cho thấy mô hình tăng trưởng dựa chủ yếu vào khai thác lợi thế tự nhiên đang dần bộc lộ giới hạn. Vùng có sản lượng nông nghiệp lớn, nhưng giá trị thu được chưa tương xứng bởi những mắt xích tạo ra lợi nhuận cao nhất trong chuỗi giá trị vẫn còn yếu. Theo ông Đậu Anh Tuấn, Phó tổng thư ký VCCI, ĐBSCL cần thay đổi căn bản tư duy phát triển, chuyển từ cách tiếp cận dựa trên đầu tư và sản lượng sang phát triển dựa trên doanh nghiệp và hệ sinh thái kinh doanh. Theo hướng tiếp cận này, doanh nghiệp không chỉ là đối tượng thụ hưởng chính sách mà phải trở thành trung tâm của chiến lược phát triển. Chính sách hỗ trợ cần tập trung vào việc nâng cao năng lực cạnh tranh, giúp doanh nghiệp tiếp cận công nghệ mới, thúc đẩy chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, phát triển năng lực quản trị và tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị trong nước cũng như quốc tế.
Đồng quan điểm, Thứ trưởng Bộ Tài chính Lê Tấn Cận cho rằng phát triển doanh nghiệp tư nhân phải được xem là động lực quan trọng nhất của nền kinh tế vùng. Theo đó, 4 nhóm giải pháp trọng tâm được đặt ra. Trước hết là cải cách mạnh mẽ thể chế và môi trường đầu tư kinh doanh theo hướng minh bạch, ổn định và dễ dự báo để doanh nghiệp yên tâm đầu tư dài hạn. Song song với đó là khuyến khích chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, tạo điều kiện cho doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào các dự án đầu tư lớn, thị trường chiến lược và chuỗi cung ứng toàn cầu. Nhóm giải pháp thứ ba là hỗ trợ doanh nghiệp thông qua chính sách tài khóa như ưu đãi thuế, phí, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo cũng như thúc đẩy hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp. Quan trọng không kém là cải cách hệ thống tín dụng...
Ở góc độ doanh nghiệp, bà Đặng Mai Kim Ngân, Phó tổng giám đốc Thuế và Pháp lý Deloitte Việt Nam, cho rằng bên cạnh vốn, thì cách thức quảng bá đầu tư của các địa phương cũng cần thay đổi. Thay vì chỉ giới thiệu ĐBSCL là “vựa lúa”, “vựa trái cây” hay “vựa thủy sản”, các địa phương cần chứng minh được năng lực chế biến, chất lượng hạ tầng, khả năng kết nối logistics, sự thuận lợi trong thủ tục đầu tư và mức độ hoàn thiện của hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp. Bởi nhà đầu tư ngày nay không chỉ tìm kiếm nguồn nguyên liệu, mà tìm kiếm một môi trường có thể giúp họ phát triển chuỗi giá trị hoàn chỉnh.
Doanh nghiệp chính là cầu nối biến lợi thế thành giá trị. Khi có một cộng đồng doanh nghiệp đủ năng lực, được hỗ trợ bởi thể chế minh bạch, hạ tầng đồng bộ, nguồn vốn phù hợp và hệ sinh thái dịch vụ hoàn chỉnh, ĐBSCL sẽ không chỉ là nơi cung cấp nguyên liệu cho nền kinh tế mà có thể trở thành trung tâm kinh tế nông nghiệp hiện đại, xanh và bền vững của Việt Nam. Đó cũng là con đường để vùng đất tỷ đô thoát khỏi nghịch lý “giàu tài nguyên nhưng nghèo doanh nghiệp”, tạo nền tảng cho một giai đoạn phát triển mới dựa trên tri thức, công nghệ và sức mạnh nội lực của cộng đồng doanh nghiệp.