Từ lợi thế địa phương đến yêu cầu mới của thị trường

Công nghiệp nông thôn là một bộ phận công nghiệp, được phân bố ở địa bàn nông thôn, có quan hệ mật thiết với sự phát triển kinh tế-xã hội nông thôn, bao gồm hoạt động sản xuất, kinh doanh của các hộ gia đình, các cơ sở công nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau với những trình độ và hình thức tổ chức sản xuất khác nhau, trên cơ sở khai thác các nguồn lực ở địa phương phục vụ thị trường địa phương, cả nước và xuất khẩu. Hiện nay, sản phẩm công nghiệp nông thôn được chia thành 4 nhóm chính, gồm: Thủ công mỹ nghệ; chế biến nông, lâm, thủy sản và thực phẩm; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng cơ khí và các sản phẩm khác.

Sản phẩm nhung hươu của Hà Tĩnh được giới thiệu tại Hội chợ triển lãm sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu khu vực miền Trung - Tây Nguyên năm 2026. Ảnh: AN SINH 

Với những đặc thù này, sản phẩm công nghiệp nông thôn sở hữu những lợi thế riêng mà không phải ngành sản xuất nào cũng có được. Đó là nguồn nguyên liệu tại chỗ, lực lượng lao động địa phương, tri thức bản địa, nghề truyền thống, bản sắc văn hóa cùng những câu chuyện gắn với vùng đất và con người. Nếu được khai thác hiệu quả, đây sẽ là nền tảng quan trọng để hình thành những sản phẩm có tính khác biệt, tạo dựng thương hiệu và mở rộng thị trường.

Đồng tình với quan điểm này, bà Đỗ Thị Minh Trâm, Phó cục trưởng Cục Công nghiệp, Bộ Công Thương nhấn mạnh, những lợi thế về nguyên liệu, lao động, bản sắc văn hóa và đặc trưng địa phương là những giá trị quan trọng giúp sản phẩm công nghiệp nông thôn phát triển tại thị trường trong nước, đồng thời từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng và xuất khẩu. Tuy nhiên, trong bối cảnh thị trường thay đổi nhanh chóng, những lợi thế truyền thống đang không còn đủ để bảo đảm sức cạnh tranh. Người tiêu dùng và các hệ thống phân phối ngày càng quan tâm đến chất lượng, nguồn gốc nguyên liệu, tiêu chuẩn môi trường, bao bì, khả năng truy xuất và tính bền vững của sản phẩm. Điều này đặt ra yêu cầu các cơ sở công nghiệp nông thôn không chỉ tập trung làm ra sản phẩm có chất lượng mà còn phải nâng cao năng lực quản trị, chuẩn hóa quy trình sản xuất và minh bạch thông tin, tính bền vững và năng lực cung ứng ổn định... Đây ngày càng trở thành điều kiện quan trọng để sản phẩm có thể đứng vững trong các hệ thống phân phối hiện đại và tiếp cận những thị trường có tiêu chuẩn cao.

Từ hỗ trợ thiết bị đến phát triển cả chuỗi giá trị

Trong bối cảnh phát triển bền vững ngày càng được coi trọng, chuyển đổi xanh đang dần trở thành yếu tố tác động trực tiếp đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Vì vậy, đối với các cơ sở công nghiệp nông thôn, xanh hóa sản xuất cần được tiếp cận theo hướng thiết thực, phù hợp với quy mô và khả năng đầu tư của từng cơ sở. Quá trình này đồng thời cần gắn với đổi mới công nghệ, tiết kiệm năng lượng, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, nâng cao chất lượng sản phẩm, xây dựng thương hiệu và từng bước ứng dụng số trong quản trị, phân phối, truy xuất và tiếp cận thị trường.

Để thực hiện được yêu cầu này, PGS, TS Bùi Quang Tuấn, Phó chủ tịch Hội Khoa học kinh tế Việt Nam cho rằng, cần có sự thay đổi quan trọng về tư duy: Chuyển đổi xanh cần được nhìn nhận như một chiến lược nâng cấp sản xuất và tiếp cận những phân khúc có giá trị cao, thay vì chỉ được xem là chi phí để tuân thủ các yêu cầu môi trường.

Thực tế cho thấy, công tác khuyến công thời gian qua đã có những đóng góp tích cực trong việc hỗ trợ các cơ sở công nghiệp nông thôn đổi mới thiết bị, mở rộng sản xuất và phát triển sản phẩm. Tuy nhiên, phần lớn doanh nghiệp và cơ sở sản xuất vẫn có quy mô nhỏ; năng lực đổi mới sáng tạo, ứng dụng công nghệ, xây dựng thương hiệu và tiếp cận thị trường còn hạn chế. PGS, TS Bùi Quang Tuấn cho rằng, để sản phẩm công nghiệp nông thôn có thêm dư địa phát triển, chính sách hỗ trợ cần chuyển từ cách tiếp cận từng sản phẩm, từng cơ sở sang hỗ trợ theo chuỗi giá trị và hệ sinh thái, với đơn vị đầu mối và “hộ chiếu số” cho sản phẩm.

Theo hướng này, “hộ chiếu số” có thể tập hợp những thông tin quan trọng về nguồn nguyên liệu, quá trình sản xuất, tiêu chuẩn, chất lượng, yếu tố môi trường và hành trình của sản phẩm. Đây sẽ là cơ sở để tăng tính minh bạch, nâng cao khả năng truy xuất và tạo thuận lợi cho việc kết nối sản phẩm với các hệ thống phân phối, thị trường trong nước và quốc tế. Cùng với hỗ trợ đổi mới thiết bị, chính sách khuyến công cũng cần chú trọng hơn đến tư vấn công nghệ, quản trị, tiêu chuẩn chất lượng, xây dựng thương hiệu, chuyển đổi số, thiết kế bao bì, phát triển vùng nguyên liệu và kết nối với các nhà phân phối.