Một sự thay đổi căn bản đang diễn ra trong ngành du lịch
Trong nhiều năm qua, khi đề cập đến đào tạo nhân lực cho ngành du lịch, Việt Nam chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực và chương trình như quản trị du lịch, quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành, quản trị khách sạn, hướng dẫn du lịch, nhà hàng-khách sạn... Cách tiếp cận này phù hợp với giai đoạn ngành du lịch chủ yếu được nhìn nhận như một ngành dịch vụ phục vụ nhu cầu đi lại, tham quan và lưu trú của du khách. Hiện nay, những nghề đó vẫn giữ vai trò quan trọng.
Tuy nhiên, sự phát triển nhanh chóng của các tập đoàn kinh tế lớn đang làm thay đổi căn bản cấu trúc của ngành. Du lịch ngày càng gắn với nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí, công viên chủ đề, thể thao, lễ hội, biểu diễn nghệ thuật, ẩm thực, mua sắm, golf, chăm sóc sức khỏe, hàng không, bất động sản và phát triển các điểm đến tích hợp. Nếu chỉ dựa trên cách tiếp cận cũ để thiết kế hệ thống đào tạo nhân lực cho tương lai, chúng ta sẽ khó theo kịp sự phát triển thực tế của ngành du lịch.
 |
| Tiết mục nghệ thuật giới thiệu nét đẹp văn hóa Tây Bắc phục vụ du khách tại Bản Mây (Sa Pa, Lào Cai). Ảnh: HOÀNG HÀ |
Du lịch hiện đại đang chuyển dần từ mô hình “bán dịch vụ” sang mô hình “bán trải nghiệm”. Du khách không chỉ mua một phòng khách sạn, họ mua một kỳ nghỉ. Không chỉ mua một chuyến đi, họ mua một câu chuyện. Không chỉ đến một địa điểm, họ tìm kiếm một trải nghiệm đáng nhớ. Không chỉ tham quan một công viên, họ tìm kiếm cảm xúc, giải trí, khám phá, giao lưu, nghệ thuật và những trải nghiệm có thể chia sẻ với cộng đồng. Sự thay đổi này đang làm cho ranh giới giữa du lịch, khách sạn, giải trí, văn hóa, thể thao, ẩm thực, sự kiện và công nghiệp sáng tạo ngày càng trở nên mờ nhạt.
Đây không phải là một nhận định thuần túy. Thực tiễn phát triển của Việt Nam đang cho thấy điều đó. Năm 2025, Việt Nam đón gần 21,2 triệu lượt khách quốc tế, mức cao nhất từ trước đến nay, đồng thời phục vụ khoảng 137 triệu lượt khách nội địa và tổng thu từ du lịch đạt khoảng 1 triệu tỷ đồng. Trong 8 tháng năm 2026, Việt Nam tiếp tục đón hơn 15,9 triệu lượt người, tăng 14,4% so với cùng kỳ năm trước. Những con số này cho thấy quy mô thị trường ngày càng mở rộng. Tuy nhiên, điều quan trọng hơn là cấu trúc của thị trường đang thay đổi. Một khách du lịch hiện đại có thể trong cùng một hành trình đi máy bay, nghỉ tại resort, sử dụng dịch vụ spa, chơi golf, tham quan công viên chủ đề, xem chương trình nghệ thuật, thưởng thức ẩm thực, mua sắm, tham gia lễ hội, sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe, trải nghiệm thể thao, tham quan di sản, sử dụng nền tảng số để đặt và đánh giá toàn bộ hành trình...
Như vậy, người tạo ra giá trị cho khách hàng không còn chỉ là “nhân viên du lịch”. Đó là một đội ngũ rất đa dạng gồm nhà quản trị, kỹ sư, chuyên gia công nghệ, kiến trúc sư, nhà thiết kế, nghệ sĩ, chuyên gia marketing, chuyên gia dữ liệu, chuyên gia sự kiện, nhân sự quản trị khách sạn, nhân sự giải trí, chuyên gia trải nghiệm khách hàng và nhiều nhóm nghề khác... Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu phải chuyển từ tư duy “đào tạo nhân lực du lịch” sang tư duy “đào tạo nhân lực cho hệ sinh thái du lịch-hospitality-giải trí-trải nghiệm”. Trong hệ sinh thái mới, không phải mọi nhân lực đều cần trình độ đại học; đồng thời, không phải mọi nhân lực đại học đều nên được đào tạo theo cùng một mô hình.
Không thể đào tạo toàn bộ nhân lực đều có trình độ đại học
Một hệ sinh thái giải trí hiện đại cần nhiều tầng nhân lực khác nhau. Ví dụ một công viên chủ đề có thể cần nhân viên vận hành, nhân viên bán vé, nhân viên dịch vụ khách hàng, nhân viên F&B (ẩm thực), kỹ thuật viên, nhân viên cứu hộ, nhân viên an ninh, chuyên viên marketing, chuyên viên dữ liệu, chuyên viên sự kiện, quản lý vận hành, quản lý tài chính, quản lý nhân sự, quản lý trải nghiệm, nhà thiết kế sản phẩm, giám đốc kinh doanh, giám đốc điểm đến... Không thể và cũng không cần đào tạo tất cả vị trí việc làm này theo chương trình đại học 4 năm.
Từ thực tiễn trên, có thể nghiên cứu một hệ thống đào tạo 4 tầng với mục tiêu là xây dựng một hệ thống nhân lực vừa có kỹ năng nghề nghiệp, vừa có năng lực quản trị, tư duy liên ngành, khả năng sáng tạo và thích ứng với chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo (AI) và kinh tế trải nghiệm.
 |
| Màn tung hứng đế bánh điêu luyện của đầu bếp tại Sun World Ba Na Hills (Đà Nẵng) đưa đến cho du khách những trải nghiệm thú vị. Ảnh: HOÀNG HÀ |
Thứ nhất là tầng đào tạo nghề. Đây là lực lượng trực tiếp cung cấp dịch vụ. Các chương trình tập trung vào vận hành, kỹ thuật, an toàn, phục vụ, chăm sóc khách hàng, lễ tân, F&B, buồng phòng, hướng dẫn, bán vé, vận hành trò chơi, tổ chức sự kiện. Chương trình cần ngắn gọn, thực hành cao và gắn chặt với doanh nghiệp. Đây là thế mạnh của giáo dục nghề nghiệp, cao đẳng và đào tạo tại doanh nghiệp.
Thứ hai là tầng đào tạo quản trị chuyên ngành. Đây là tầng quan trọng của giáo dục đại học ứng dụng. Có thể phát triển các chương trình quản trị du lịch, quản trị khách sạn, quản trị lữ hành, quản trị sự kiện, quản trị công nghiệp giải trí, quản trị công viên chủ đề, quản trị dịch vụ ẩm thực. Các chương trình này cần cân bằng giữa kiến thức quản trị và kiến thức chuyên ngành.
Thứ ba là tầng quản trị hệ sinh thái và điểm đến. Đây là tầng còn thiếu trong hệ thống đào tạo hiện nay. Một nhà quản trị điểm đến không thể chỉ hiểu du lịch. Họ phải hiểu cả du lịch, quản trị du lịch và cả giải trí, văn hóa, cho đến chính trị, thương mại, giao thông, đô thị, môi trường, công nghệ, tài chính. Một người được đào tạo theo hướng này phải trả lời được làm thế nào để phát triển một địa phương thành điểm đến, để tăng thời gian lưu trú và chi tiêu, để thiết kế chuỗi trải nghiệm, để kết nối doanh nghiệp và cộng đồng, để bảo tồn tài nguyên, để ứng dụng AI và dữ liệu trong quản trị dòng khách, để phát triển du lịch mà không đánh đổi văn hóa và môi trường.
Tầng thứ tư là đào tạo khai sáng và lãnh đạo. Đây là tầng tạo ra năng lực dài hạn cho ngành du lịch. Công nghiệp giải trí khác biệt so với sản xuất truyền thống. Một sản phẩm thông thường được đánh giá qua chi phí cộng chất lượng và năng suất. Nhưng một sản phẩm giải trí còn phải trả lời có tạo cảm xúc không, có đáng nhớ không, có khác biệt không, có câu chuyện không, có khiến du khách quay lại không. Những yếu tố này liên quan trực tiếp đến tâm lý học, nghệ thuật, văn hóa, nhân học, kể chuyện, thiết kế, sáng tạo. Công nghiệp giải trí và kinh tế trải nghiệm không chỉ cần người vận hành mà cần những người có khả năng sáng tạo ra những điều chưa tồn tại. Chương trình đào tạo ở tầng này cần giúp người học hiểu về con người, văn hóa, nghệ thuật, tâm lý, xã hội, lịch sử, triết học, chính trị, môi trường, công nghệ, kinh tế, quản trị. Vì vậy, giáo dục khai sáng không đối lập với đào tạo nghề mà tạo nền tảng trí tuệ cho năng lực nghề nghiệp phát triển bền vững.
Với các tầng đào tạo trên, cấu trúc chương trình đại học cũng cần thay đổi. Trong đó, năm đầu tiên tạo nền tảng khai sáng, năm thứ hai tạo nền tảng quản trị, năm thứ ba mới học chuyên ngành và năm thứ tư dành cho thực hành và sáng tạo.
Quá trình đào tạo này không thể tách rời nhà trường và doanh nghiệp. Nguyên tắc quan trọng là doanh nghiệp không chỉ tiếp nhận sinh viên thực tập, mà phải tham gia vào thiết kế và đánh giá chương trình đào tạo. Chính sách nhân lực cũng cần thay đổi từ đào tạo theo tên ngành sang đào tạo theo hệ sinh thái. Thay vì hỏi cần bao nhiêu sinh viên du lịch sang hỏi cần bao nhiêu nhân lực vận hành, bao nhiêu quản trị khách sạn, bao nhiêu quản trị điểm đến, bao nhiêu chuyên gia trải nghiệm, bao nhiêu chuyên gia dữ liệu, bao nhiêu chuyên gia marketing số...
Tương lai của đào tạo nhân lực du lịch Việt Nam không phải là đào tạo ngày càng nhiều người cho một ngành du lịch ngày càng lớn, mà là xây dựng một hệ thống giáo dục có khả năng cung cấp những con người phù hợp với một nền kinh tế trải nghiệm ngày càng phức tạp, liên ngành và sáng tạo. Nếu thực hiện được sự chuyển đổi, giáo dục Việt Nam không chỉ đáp ứng nhu cầu nhân lực của các doanh nghiệp hiện có mà quan trọng hơn còn có thể trở thành một trong những lực lượng kiến tạo những mô hình kinh tế mới, tạo ra những sản phẩm trải nghiệm mới, những ngành nghề mới và những điểm đến mới.