Phóng viên (PV): Hiện các nhà khoa học nhận xét rằng tốc độ ứng dụng công nghệ sinh học trong nông nghiệp của Việt Nam đang bị chậm lại, thậm chí có nguy cơ bị tụt hậu so với thế giới. Ý kiến của Tiến sĩ về nhận xét này như thế nào?

Tiến sĩ Đỗ Tiến Phát: Nếu so sánh với các quốc gia đứng đầu thế giới về khoa học và công nghệ như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản... thì có thể nói chúng ta đi sau họ rất nhiều trong lĩnh vực phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học trong nông nghiệp. Điều này bắt nguồn từ điều kiện kinh tế đất nước, nguồn nhân lực khoa học cũng như những chính sách nhằm phát triển lĩnh vực này. Mặc dù vậy, trong những năm qua các nhà khoa học trong nước vẫn không ngừng vượt khó để tiếp cận và phát triển các công nghệ mới trong lĩnh vực công nghệ sinh học và ứng dụng trong nông nghiệp ở nước ta. Tuy nhiên, để thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa, chúng ta cần có các chính sách dài hơi và trọng tâm, trọng điểm.

 Tiến sĩ Đỗ Tiến Phát.

Bên cạnh đầu tư, nâng cao, hiện đại hóa trang thiết bị nghiên cứu, việc đào tạo nguồn lực và có chính sách đãi ngộ và thu hút nguồn lực có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Thêm vào đó các quy định cụ thể về việc phát triển và ứng dụng các sản phẩm công nghệ sinh học trong nông nghiệp như cây trồng, vật nuôi chỉnh sửa gen... cũng cần được hoàn thiện. Từ đó tạo động lực cho các nhà nghiên cứu cũng như thu hút được nguồn lực doanh nghiệp bên ngoài để thúc đẩy lĩnh vực này ở nước ta.

PV: Theo Tiến sĩ, đâu là khó khăn, rào cản chính đối với việc nghiên cứu, ứng dụng công nghệ sinh học trong nông nghiệp tại Việt Nam hiện nay?

Tiến sĩ Đỗ Tiến Phát: Như đã trình bày ở trên, rào cản lớn nhất với chúng ta hiện nay là cơ sở vật chất, trang thiết bị, nguồn lực khoa học và đặc biệt là nguồn kinh phí đầu tư cho nghiên cứu và ứng dụng công nghệ sinh học trong nông nghiệp. Hiện nay nguồn kinh phí còn rất hạn hẹp và chỉ cấp trong ngắn hạn. Việc này dẫn tới các kết quả nghiên cứu cũng mới chỉ dừng lại ở những kết quả bước đầu mà khó có thể đi tới các sản phẩm hoàn thiện và có tính ứng dụng cao. Ở các quốc gia phát triển, với các công nghệ tiên tiến và hiện đại, nguồn kinh phí đầu tư thường rất lớn trong thời gian dài hạn. Tuy nhiên, các đề tài dự án ở nước ta về lĩnh vực công nghệ sinh học còn rất hạn chế về kinh phí và quy mô thực hiện.

Đặc biệt, việc thu hút và giữ chân nguồn nhân lực khoa học chất lượng cao ở Việt Nam là vô cùng khó khăn do cơ sở vật chất và chế độ đãi ngộ chưa đủ hấp dẫn họ. Dẫn tới việc triển khai các đề tài dự án mang tầm quốc gia, quốc tế gặp phải rất nhiều khó khăn do thiếu nguồn lực.

Thêm vào đó, việc thiếu các chính sách rõ ràng về việc quản lý và sử dụng các sản phẩm công nghệ sinh học vào sản xuất nông nghiệp như cây trồng chỉnh sửa gen (GE)... cũng là rào cản đối với quá trình nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ này ở nước ta.

Trồng ngô biến đổi gen ở tỉnh Thái Nguyên.

PV: Để đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng công nghệ sinh học, trong đó có cây trồng vật nuôi biến đổi gen, chỉnh sửa gen, chuyển gen trong nông nghiệp, Việt Nam cần phải làm gì, thưa Tiến sĩ?

Tiến sĩ Đỗ Tiến Phát: Chúng ta cần có cơ chế, chính sách đồng bộ và dài hơi từ việc đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, đào tạo và thu hút nguồn nhân lực tới việc cung cấp nguồn kinh phí nghiên cứu, ứng dụng thông qua các đề tài dự án của nhà nước cũng như nguồn lực từ doanh nghiệp. Bên cạnh đó, cần phải có chính sách rõ ràng và hướng dẫn cụ thể trong việc phát triển và ứng dụng các sản phẩm công nghệ sinh học nông nghiệp. Ngoài ra, cần có chính sách mở rộng hợp tác quốc tế nhằm chia sẻ, trao đổi, tiếp cận và nâng tầm công nghệ về lĩnh vực công nghệ sinh học ở nước ta.

Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22-12-2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia thực sự là cuộc “cách mạng”, một “luồng gió mới” tạo điều kiện để thúc đẩy phát triển nghiên cứu, ứng dụng công nghệ sinh học, trong có cây trồng chỉnh sửa gen trong nông nghiệp trong thời gian tới.

PV: Lâu nay, những lo ngại về cây trồng biến đổi gen, chỉnh sửa gen… tác động tới sức khỏe con người. Vậy ý kiến của Tiến sĩ về vấn đề này?

Tiến sĩ Đỗ Tiến Phát: Cây trồng biến đổi gen (GMO) là một trong những nghiên cứu, ứng dụng công nghệ sinh học trong nông nghiệp đã được thương mại hóa gần 3 thập kỷ qua trên khắp thế giới, một số giống ngô biến đổi gen đã được phê duyệt và được trồng tại Việt Nam từ hơn 10 năm nay (riêng cây trồng chỉnh sửa gen - GE thì tại Việt Nam vẫn ở giai đoạn nghiên cứu, vẫn chưa được đưa vào canh tác vì còn phải đợi chỉnh sửa các văn bản quy phạm về pháp luật).

Các sản phẩm này không chỉ dùng trong công nghiệp, làm thức ăn chăn nuôi mà còn dùng trong thực phẩm cho con người. Tuy nhiên, cho tới hiện tại, chưa ghi nhận một chứng cứ khoa học nào cho thấy tác động xấu của các sản phẩm này tới sức khỏe con người. Do vậy, dưới góc độ khoa học, chúng ta không phải quan ngại về vấn đề này.

Một giống lúa chỉnh sửa gen (GE) đang được nghiên cứu tại Viện Di truyền Nông nghiệp Việt Nam.

PV: Dưới góc nhìn của một nhà khoa học, ngành nông nghiệp sẽ như thế nào nếu việc nghiên cứu, ứng dụng công nghệ sinh học của Việt Nam phát triển và thành công trong thời gian tới, thưa Tiến sĩ?

Tiến sĩ Đỗ Tiến Phát: Như chúng ta đã thấy, diện tích đất canh tác không thể mở rộng thêm và thậm chí bị thu hẹp do tác động của đô thị hóa và đặc biệt là sự biến đổi khí hậu toàn cầu, nước biển dâng... Nhằm đáp ứng nhu cầu lương thực, thực phẩm cho lượng dân số ngày một tăng thì việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới trong đó có công nghệ sinh học vào lĩnh vực nông nghiệp là vô cùng quan trọng và cấp thiết.

Việc nghiên cứu, phát triển và ứng dụng thành công Công nghệ sinh học trong lĩnh vực nông nghiệp ở nước ta không những giải quyết được các khó khăn hiện tại và duy trì được vị thế của một quốc gia xuất khẩu nông nghiệp giá trị cao mà còn góp phần đảm bảo và giữ vững an ninh lương thực toàn cầu. Việc ứng dụng công nghệ sinh học vào nông nghiệp sẽ giúp chúng ta phát triển nền nông nghiệp thích ứng nhanh chóng với các thay đổi đột ngột và mạnh mẽ của điều kiện khí hậu môi trường hiện nay mà các phương pháp chọn tạo giống truyền thống không thực hiện được. Ngoài ra, công nghệ sinh học hiện đại với các kỹ thuật mới sẽ giúp nâng cao năng suất, chất lượng, khả năng thích ứng, giảm chi phí sản xuất... từ đó nâng cao hiệu quả kinh tế, cải thiện đời sống nông dân và nâng cao nguồn thu ngân sách cho nhà nước.

PV: Xin trân trọng cảm ơn Tiến sĩ!