Trong quá trình làm báo, chúng tôi đã chứng kiến không ít chuyện vui buồn liên quan đến những người bị oan ức. Nhưng có lẽ vụ án “cố ý gây thương tích” dưới đây là một trong những sự việc để lại cho chúng tôi nhiều cảm xúc khó quên…

Chị Đức và cháu Đại trình bày sự oan ức với phóng viên báo Quân đội nhân dân. Ảnh: NGUYỄN MINH HOÀI

Chiều 7-8-2007, vụ án “cố ý gây thương tích” ở Thanh Mai, (Thanh Oai, Hà Tây) chuyển sang một bước ngoặt khi Hội đồng xét xử (HĐXX) sơ thẩm lần hai của TAND tỉnh Hà Tây tuyên: ba bị cáo Nguyễn Trường Đại, Nguyễn Văn Nhân, Nguyễn Đức Thuận vô tội. Niềm vui đã vỡ òa sau 4 năm ròng các em sống trong oan ức và cơ cực. Thế nhưng, đến nay sự thật lại tiếp tục bị đe dọa và công lý vẫn còn ở phía trước…

Vụ án trên đã được báo Quân đội nhân dân nhiều lần đăng bài, đưa tin. Qua các bài “Tiến tới sự công bằng” đăng ngày 11-4-2006; “Không có chứng cứ mới… vẫn truy tố” ngày 27-4-2007… chúng tôi đã đi sâu phân tích những dấu hiệu làm oan cho ba thanh niên vô tội của một số cơ quan tố tụng ở Hà Tây và đề nghị cần có quyết định đúng đắn, khách quan, kịp thời minh oan cho các bị cáo. Vụ án đã qua hai cấp xét xử. Đầu tiên, án sơ thẩm của TAND tỉnh Hà Tây ngày 21-7-2005 tuyên các bị cáo phạm tội “cố ý gây thương tích” với hình phạt từ 2 đến 8 năm tù. Sau đó, tại phiên xét xử phúc thẩm, TAND tối cao tuyên hủy án sơ thẩm để điều tra lại. Ngày 7-8-2007, HĐXX sơ thẩm lần hai, TAND tỉnh tuyên các bị cáo vô tội và yêu cầu chính quyền địa phương, Trường đại học Bách khoa Hà Nội, Trường cao đẳng Sư phạm Hà Tây khôi phục danh dự, quyền và lợi ích hợp pháp cho họ.

Tham dự phiên toà sơ thẩm lần hai, chúng tôi chứng kiến các bị cáo tiếp tục kêu oan, khẳng định mình bị điều tra viên dùng nhục hình và bị ép cung. Các luật sư nhận bào chữa miễn phí cho các bị cáo đưa ra nhiều lý lẽ như: “Trong trại giam bị cáo Đại không có giấy và bút, những thứ đó là do điều tra viên đưa vào. Một bức thư thông thường của con gửi cho mẹ không thể là một bức thư nhận tội như thế. Rồi việc có một người bị tạm giam khác xác nhận bằng giấy trắng mực đen rằng bị cáo không bị đánh. Nếu điều tra viên thực thi đúng pháp luật thì cần gì phải có sự xác nhận này. Đây là một việc làm cực kỳ tinh vi của điều tra viên, qua đó cho thấy bị cáo bị đánh, bị ép cung trong trại giam”. Hoặc “có một sự trùng hợp khá đặc biệt là sau khi bị bắt các bị cáo đều bị ốm. Sau khi bị ốm, các bị cáo đều nhận tội”; “Có 5 người, trong đó có 4 phụ nữ lại có thể làm được cái việc ngăn cản, giằng co với đám người đông hơn thế gấp 5 lần. Dũng bị mù cả hai mắt, nhưng các bị cáo mắt bình thường lại không thể đuổi được”. (Xin lưu ý, TANDTC cũng chỉ ra sự vi phạm nghiêm trọng khi điều tra viên gạch xóa đến hơn 30 bút lục là lời khai của bị cáo, bị hại và nhân chứng trong vụ án). Vì vậy, phán quyết của phiên toà sơ thẩm lần hai đã được những người tham dự phiên toà “tâm phục khẩu phục”.

Sau phiên toà sơ thẩm lần hai, chúng tôi trở lại thăm những đối tượng phản ảnh của mình. Tiếp chúng tôi trong quán nước nhỏ ven đường 21B, hai bà mẹ (đồng thời là chị dâu em chồng), chị Phạm Thị Đấu, mẹ của Đại, Nhân và chị Nguyễn Thị Minh Đức, mẹ của Thuận, không khỏi nghẹn ngào khi nhớ lại những ngày tai họa giáng xuống con, cháu mình làm điêu đứng cả họ tộc. Từ hành động chống trả lại nhóm người đang tâm đổ đất xuống ao đang nuôi cá của gia đình hòng lấn chiếm, nạn nhân lại trở thành tội phạm. Và tiếp theo là những ngày nhóm người lùng sục, đập phá tài sản của gia đình, các cháu bị bắt giam ròng rã gần hai năm trời. Chị Đấu kể: “Chồng tôi là thương binh 2/4, mất chưa được 4 tháng vì tái phát vết thương thì hai con bị tống giam, lúc đó tôi chẳng nghĩ được gì, chỉ còn nước chết theo chồng. Hai năm ròng chờ con, nghĩ nhiều quá, bản thân lại có bệnh thành ra lẩn thẩn, cứ đi lang thang ngoài đường. Lúc đó nhiều người bảo tôi bị điên. Thằng út đang ôn thi đại học cứ tự ăn, tự học, tự lo lại chạy đi chạy lại thăm mẹ ốm đau, thăm hai anh tù tội. Hai năm đó, cứ tối đến tôi lại mong trời sáng, sáng ra lại mong đến hết ngày, uống ngụm nước cũng thấy đau”. Nói đến đây, chị Đấu ngừng lại lau nước mắt rồi kể tiếp:

Tham dự phiên toà sơ thẩm lần hai, chúng tôi chứng kiến các bị cáo tiếp tục kêu oan, khẳng định mình bị điều tra viên dùng nhục hình và bị ép cung. Các luật sư nhận bào chữa miễn phí cho các bị cáo đưa ra nhiều lý lẽ như: “Trong trại giam bị cáo Đại không có giấy và bút, những thứ đó là do điều tra viên đưa vào. Một bức thư thông thường của con gửi cho mẹ không thể là một bức thư nhận tội như thế. Rồi việc có một người bị tạm giam khác xác nhận bằng giấy trắng mực đen rằng bị cáo không bị đánh. Nếu điều tra viên thực thi đúng pháp luật thì cần gì phải có sự xác nhận này. Đây là một việc làm cực kỳ tinh vi của điều tra viên, qua đó cho thấy bị cáo bị đánh, bị ép cung trong trại giam”. Hoặc “có một sự trùng hợp khá đặc biệt là sau khi bị bắt các bị cáo đều bị ốm. Sau khi bị ốm, các bị cáo đều nhận tội”; “Có 5 người, trong đó có 4 phụ nữ lại có thể làm được cái việc ngăn cản, giằng co với đám người đông hơn thế gấp 5 lần. Dũng bị mù cả hai mắt, nhưng các bị cáo mắt bình thường lại không thể đuổi được”. (Xin lưu ý, TANDTC cũng chỉ ra sự vi phạm nghiêm trọng khi điều tra viên gạch xóa đến hơn 30 bút lục là lời khai của bị cáo, bị hại và nhân chứng trong vụ án). Vì vậy, phán quyết của phiên toà sơ thẩm lần hai đã được những người tham dự phiên toà “tâm phục khẩu phục”.

Nghĩ rằng ông trời đã triệt mọi đường, không ngờ chúng tôi lại nhận được sự ủng hộ lên tiếng của báo chí, trong đó có báo Quân đội nhân dân và sự bào chữa miễn phí của các luật sư Phạm Hồng Hải, Nguyễn Hoàng Bách, Đậu Thị Thúy Hằng, Lê Văn Kiên, Nguyễn Thị Thanh Huyền… Tia hy vọng lóe lên khi TAND tối cao tuyên hủy án sơ thẩm, trả hồ sơ, yêu cầu điều tra bổ sung. Mặc dù kết quả điều tra bổ sung chẳng có gì mới nhưng VKSND tỉnh vẫn đề nghị truy tố tội danh cũ. Thế rồi công lý như bừng sáng khi HĐXX sơ thẩm lần hai tuyên ba đứa vô tội. Lúc đó tôi như người trong mơ, không biết mình nghe có đúng không nên chạy hỏi người xung quanh “có thật là tòa tuyên các cháu vô tội không?”. Mấy năm cơ cực chỉ mong có ngày đó nhưng sao tôi chẳng cười được, bao nhiêu uất ức, buồn khổ ở đâu dồn đến cứ theo nước mắt chảy ròng. Đến bây giờ về nhà, tôi càng thấm thía được giá trị của bản án tuyên đúng sự thật. Những ngày tháng đó, nếu không có báo chí, luật sư lên tiếng, bà con, họ hàng đỡ đần chắc tôi chẳng còn sống được đến ngày hôm nay”.

Chị Đỗ Thị Nụ là thím của Đại, Nhân, Thuận có thời gian dài hỗ trợ chị mình đi kêu oan cho các cháu, tâm sự: “Có những hôm cùng chị Đức viết đơn suốt đêm, viết xong đến 3 giờ sáng đi ra Hà Nội chờ chực gửi đơn khắp nơi, đến 24 giờ mới về đến nhà. Cả ngày ở Hà Nội, hai chị em chỉ mua mấy nghìn đồng ngô luộc ăn cho qua bữa. Tôi nhớ như in đêm 30 Tết năm 2005, lúc đó gần đến giao thừa, hai chị em tôi bụng đói cồn cào nhưng tiền chỉ đủ ăn một bát bún nên cũng đành gọi để chị em ăn chung cho đỡ đói, về đến nhà thì đã bước sang năm mới. Rồi hôm chị em tôi đến nhà một bác lãnh đạo cao cấp của Chính phủ để đưa đơn, trời mưa tầm tã. Một anh cảnh vệ ra bảo: “Nếu các cô ở đây, chúng cháu sẽ bị khiển trách”. Tôi nhẹ nhàng nói: “Mong cháu thông cảm, cho các cô đứng đây đợi bác ấy về, đưa đơn là đi ngay”. Thế rồi chúng tôi cũng gặp được bác ấy và bác đã cử thư ký tiếp nhận đơn của chúng tôi… Bao nhiêu hy vọng lại lóe lên nhưng khi về đến nhà, nhận được hồi âm từ ông Phó viện trưởng VKSND tỉnh Hà Tây rằng: “bắt các cháu như thế là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật”, tất cả lại như một gáo nước lạnh giội lên đầu chúng tôi. Tôi hỏi chị Đức: “Chị ơi ngày mai có đi nữa không? Chị bảo: Phải đi, có đi gõ cửa khắp nơi may ra mới có thể minh oan, đòi lại công lý”. Nói đến đó chị cười có ý khoe với các nhà báo “tính đến nay, hai chị em tôi viết chỉ thiếu vài đơn nữa là đầy 2.000 lá, gửi đi rất nhiều cơ quan và cá nhân”.

Nước mắt chị Đức (mẹ em Thuận) cứ lăn dài trên hai gò má khi chúng tôi hỏi chuyện. Chị kể: “Sau 22 tháng con và cháu trong nhà giam, gia đình chẳng làm ăn gì được, trong nhà có gì đều đã bán hết, nhiều người cho lắm rồi, đi vay nhiều chỗ lắm rồi, thế mà có lúc tưởng như vô vọng. Thế rồi lúc sẩm tối ngày 21-8-2005, bỗng nhiên gia đình nhận được điện thoại ra trại tạm giam đón các cháu với lý do “thay đổi biện pháp ngăn chặn”. Lúc đó, trời mưa như trút nước, cả gia đình cứ thế rồng rắn đội mưa đi đến trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tây, không biết là thật hay mơ. Đến hôm các cháu được tuyên vô tội, trời cũng mưa như trút nước. Tôi cứ lẩn thẩn: có lẽ ông trời cũng biết nên rủ lòng thương mình chăng?”. Chị Đức còn cho chúng tôi biết: “Đến bây giờ Đại đã khá hơn nhiều so với lúc diễn ra phiên phúc thẩm. Gần hai năm trong trại tạm giam, Đại sút 10kg, viêm tai giữa, bị suy nhược thần kinh. Đại từng bị coi là kẻ phụt a-xít vào mặt một người, nhưng bản thân Đại không biết đó là thứ nước gì nên kiên quyết không nhận tội. Trong lúc nửa tỉnh nửa mê, Đại được cán bộ trại giam đưa giấy, bút vào bảo viết thư về nhà. Nội dung thư do cán bộ hướng dẫn, ép viết. Bức thư chưa kịp ráo mực thì cán bộ quản giáo đã tịch thu và nó được coi là bằng chứng buộc tội. Điều này khiến Đại càng thêm uất ức”. Còn Thuận, con trai của chị; trong ba anh em, sức khỏe Thuận kém nhất. Cao 1,73m nhưng thân hình lúc ra trại Thuận chỉ còn 40kg. Quãng thời gian trong trại giam, nhiều lần Thuận phải đi cấp cứu. Được tại ngoại trong tình trạng bị hỏng gần hết hai lá phổi và ho ra máu, Thuận vẫn mong được đi học ngay.

Khi chúng tôi hỏi đến chuyện học hành của Nhân, trông em buồn hẳn. Thuận và Nhân bị bắt khi đang là sinh viên. Thuận học hệ cao đẳng tại Trường đại học Bách khoa Hà Nội, Nhân học Trường cao đẳng Sư phạm Hà Tây. Sau gần hai năm bị giam giữ, việc học của hai sinh viên này bị gián đoạn. Lần này, tuy không gặp Thuận nhưng qua Nhân chúng tôi được biết: trong thời gian tại ngoại, Thuận đã đi học trở lại với sức học rất khá. Hiện em vẫn đang học ở trường để chuẩn bị cho kỳ thi tốt nghiệp. Đại đã theo chú lên Hà Đông làm thợ nước được một thời gian. Chỉ còn lại Nhân ở nhà, chưa thể đi học trở lại Trường cao đẳng Sư phạm Hà Tây, vì từ khi Nhân bị khởi tố, bắt tạm giam, gia đình cũng nhận được “trát” của trường thông báo buộc Nhân thôi học. Đối với Nhân, những ngày trong trại tạm giam là một nỗi ám ảnh khó mà nguôi ngoai. Khi ra khỏi trại tạm giam, Nhân cũng bị suy nhược thần kinh nặng, lúc nhớ lúc quên. Bệnh viện tỉnh Hà Tây cho đơn thuốc điều trị vẫn không khỏi hẳn, nhưng vì không có điều kiện tiếp tục chạy chữa, gia đình cho em về tuyến huyện điều trị. Được tại ngoại, công việc đầu tiên Nhân muốn là được học trở lại. Nhân nói: “Nếu không bị bắt oan giờ này em đã đứng trên bục giảng”. Khi chúng tôi giơ máy lên định chụp Nhân một kiểu ảnh, em đứng dậy đi như chạy, nói với lại một câu “em muốn quên hết mọi thứ để làm lại từ đầu”.

Không gì có thể bù đắp nổi quãng thời gian đằng đẵng gần bốn năm qua các em phải sống trong nỗi oan ức, khổ cực với gần hai năm bị giam giữ. Thời gian đó, trong số họ có những người tưởng chừng đã cận kề cái chết sau những đợt ốm dài trong trại giam. Những tưởng sau khi bản án sơ thẩm hình sự tuyên ngày 7-8-2007, nỗi oan các em đã được rửa sạch thì nào ngờ, ngày 22-8-2007, VKSND tỉnh Hà Tây lại có kháng nghị bản án, yêu cầu hủy án sơ thẩm để điều tra lại. Với bản kháng nghị này xem ra hành trình đi tìm công lý của Đại, Nhân, Thuận và gia đình các em vẫn còn ở phía trước.

Ngày 17-10-2007, chị Nguyễn Thị Minh Đức và cháu Nguyễn Trường Đại lại đến tòa soạn báo Quân đội nhân dân thông báo tin vui “cháu Nhân vừa được nhập học trở lại Trường cao đẳng Sư phạm Hà Tây”, đồng thời đề nghị báo tiếp tục lên tiếng bảo vệ sự thật, bảo vệ quyền lợi chính đáng cho hai con và cháu của một thương binh hạng 2/4 đã từng có những năm tháng chiến đấu ở chiến trường. Người phụ nữ khắc khổ này chia tay chúng tôi bằng những lời nói kèm theo nước mắt: “Tôi không hiểu Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tây còn làm khổ chúng tôi đến bao giờ? Nhưng chúng tôi sẽ đi đến cùng để bảo vệ sự trong sạch của mình, chứng minh sự vô tội của các cháu. Xin các nhà báo Quân đội đừng bỏ rơi chúng tôi”.

PHẠM VĂN HUẤNĐỖ KIM DUNG