QĐND Online - Nghịch lý ấy tưởng chừng không còn nữa nhưng với các thầy, cô giáo ở điểm trường Chà Lan, thuộc Trường Tiểu học Tây Tiến ở bản Chà Lan, xã Mường Lý, huyện vùng biên Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa đã trở thành công việc thường xuyên và liên tục.
Nằm cách trung tâm huyện Mường Lát chừng 30km nhưng để vào được bản Chà Lan, chúng tôi phải “bò” bằng chiếc xe máy gần 3 giờ đồng hồ, trườn lên những con dốc dựng đứng, uốn lượn quanh co qua các triền núi. Có lẽ, chính cái sự khó khăn về địa lý, kèm theo cơ sở hạ tầng thiếu thốn, trình độ dân trí thấp nên sự nghiệp “gieo chữ” ở vùng cao này gặp không ít những trở ngại.
Tiếp chúng tôi trong căn phòng bán trú, nằm ở lưng chừng núi, thầy Hơ Văn Va, người đã có 10 năm gắn bó với điểm trường này không khỏi trầm tư: “10 năm trôi qua nhưng chuyện thầy đi tìm trò, vận động phụ huynh cho các em đến lớp vẫn chưa thể thay đổi được”.
 |
|
Các em học sinh ở bản Chà Lan trên đường tới lớp
|
Nói đến đây, thầy Va dẫn chứng cho tôi biết: Cả điểm trường chỉ có 66 học sinh, được chia làm 2 lớp ghép (2+3 và 4+5) và lớp 1 đơn, cứ đầu năm học đầy đủ, sau đó lại thưa dần do bố mẹ các em không muốn cho con đến học cái chữ nữa, bắt các em phải ở nhà đi làm nương, kiếm ngô, kiếm sắn để no cái bụng.
Không thể để con chữ “chìm” theo lối nghĩ lạc hậu của đồng bào, vậy là thầy Va cùng với thầy Ngân Văn Cường và cô Hà Thị Loan phải lặn lội đến từng nhà, lên từng nương ngô, nương sắn của bà con vận động bố mẹ cho các em đến lớp.
Nhớ lại những lần đi vận động học trò, thầy Ngân Văn Cường kể cho tôi nghe: “Ở bản có em Giàng A Thành, học hết lớp 3, khi lên lớp 4 thì bố mẹ bắt ở nhà đi làm. Khi chúng tôi đến vận động em quay lại lớp, bố em là Giàng A Sùng nói rằng chỉ đi làm nương rẫy mới no cái bụng, học cái chữ không ăn được”. Nhưng khi Giàng A Sùng nghe thầy Cường nói: “Thầy đang ăn cái chữ. Gia đình phải cho con đi học thì sau này mới trở về bản ăn cái chữ như thầy được chứ!”. Vậy là Giàng A Sùng nghe ưng cái bụng và cho em Thành tiếp tục đến lớp.
Tuy vậy, không phải phụ huynh nào cũng “ưng cái bụng” như Giàng A Sùng, bởi theo thầy Hơ Văn Va, cả bản hiện còn 4 em là Vàng A Vãng, Tráng A Xẻng, Tráng Thị Dua, Tráng Thị Xung đã đến tuổi đến trường nhưng gia đình cương quyết không cho các em tới lớp.
Tôi băn khoăn muốn hiểu rõ sự tình thì thầy Hơ Văn Va ngước mắt lên những quả đồi trọc, những mái nhà xiêu vẹo, nhỏ xíu trên các triền núi đá của đồng bào Mông nơi đây rồi trầm ngâm: “Bao giờ đồng bào nơi đây đủ cái ăn, cái mặc, mới mong một sự đổi thay về sự học trong cách nghĩ của đồng bào”.
Bài và ảnh: VŨ MINH