Trong số 27 hồ sơ đề nghị xét tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về KH&CN lần thứ 5, công trình "Lịch sử và văn hóa Việt Nam: Tiếp cận bộ phận" của Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân (GS, NGND) Phan Huy Lê là một trong số ít các công trình thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn xuất sắc được vinh danh. Phóng viên Báo QĐND Online đã có buổi trao đổi với GS, NGND Phan Huy Lê về cách tiếp cận mới trong nghiên cứu lịch sử và văn hóa Việt Nam. Trân trọng giới thiệu với bạn đọc.
Phóng viên: Thưa Giáo sư, công trình của Giáo sư được đặt tên là "Lịch sử và Văn hóa Việt Nam: Tiếp cận bộ phận". Vậy xin Giáo sư cho biết vì sao công trình được đặt tên là "Tiếp cận bộ phận"? Đây có phải là hướng nghiên cứu mới trong ngành lịch sử?
GS, NGND Phan Huy Lê: Trong khoa học hiện đại, tất cả các ngành khoa học đều phải tiếp cận đối tượng nghiên cứu của mình. Nhưng tiếp cận như thế nào thì tùy theo ngành khoa học và tùy theo từng trường hợp nghiên cứu để chọn cách tiếp cận khoa học nhất, khách quan và đạt kết quả cao nhất. Công trình nghiên cứu của tôi mang tên "Lịch sử Văn hoa Việt Nam: Tiếp cận bộ phận" đã vận dụng lý thuyết tiếp cận nhưng không phải tiếp cận toàn bộ đối tượng mà chỉ tiếp cận một bộ phận. Tuy nhiên, vấn đề quan trọng không phải là tùy tiện chọn bất cứ nội dung gì để tiếp cận, nếu như không biết chọn hướng tiếp cận mà đi vào những bộ phận phụ, đơn lẻ thì không giúp nhận thức được bản chất đối tượng. Vì vậy, tiếp cận bộ phận nhưng phải biết chọn lọc trong cả lịch sử văn hóa Việt Nam, một số vấn đề cốt lõi, căn bản nhất. Từ cách tiếp cận bộ phận đó không chỉ giúp người đọc hiểu được bộ phận đó mà có thể kết nối với các bộ phận còn lại để có nhận thức chung về cả hệ thống.
Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Phan Huy Lê. Ảnh: Trần Minh
Công trình của tôi là tập hợp của nhiều bài báo, nhiều công trình nghiên cứu cả trong nước và ngoài nước từ năm 1998 đến 2007. Cuốn sách có 9 chương, nhưng tôi chọn một số vấn đề để tiếp cận. Đó là đưa ra cách nhìn mới về lịch sử văn hóa Việt Nam. Trước đây, các nhà nghiên cứu nhìn lịch sử văn hóa Việt Nam mới đơn thuần là lịch sử của người Việt. Người Việt đi đến đâu thì lịch sử văn hóa Việt Nam mở ra đến đó. Đây là cách tiếp cận đơn tuyến. Cách tiếp cận này có hạn chế lớn là đối với các khu vực Nam Bộ và Nam Trung Bộ chưa được đề cập đến. Từ trước thế kỷ 17, trước khi người Việt vào đây thì vùng đất này ra sao? Tất cả những sự kiện xảy ra trên không gian lãnh thổ Việt Nam đều thuộc về lịch sử Việt Nam. Không chỉ riêng người Việt mà tất cả các cộng đồng cư dân, dân tộc sinh sống trên lãnh thổ đã góp phần xây dựng nên từng vùng đất cũng như xây dựng nên Tổ quốc Việt Nam nói chung. Trong tiếp cận bộ phận, nếu chọn được vấn đề cốt lõi thì có thể mở rộng phạm vi, giúp nhìn nhận lại toàn bộ hệ thống và có góc nhìn mới về lịch sử Việt Nam.
Phóng viên: Theo Giáo sư, hoạt động nghiên cứu lịch sử ở Việt Nam hiện nay như thế nào, các nhà nghiên cứu lịch sử đã đi đúng hướng hay chưa?
GS, NGND Phan Huy Lê: Ở nước ta hiện nay, một số nhà nghiên cứu nước ngoài cho rằng đang có hai trường phái lớn: Trường phái đặc biệt quan tâm đến sử liệu. Tức là trường phái nghiên cứu bất cứ một đối tượng nào đó, hoặc đánh giá một vấn đề nào đó đòi hỏi phải có chứng cứ rõ ràng, có sức thuyết phục; không có chứng cứ thì không có khoa học. Trường phái thứ hai là không quan tâm đến sử liệu, mà chủ yếu chú trọng về phương diện bình luận, tư biện và tư duy cá nhân nhiều hơn.
Theo tôi, đã gọi là khoa học, sử học thì trước tiên phải xuất phát từ sử liệu. Không có sử liệu thì nghiên cứu không có tính bền vững. Ví dụ, một công trình nghiên cứu sâu sắc, trên cơ sở sử liệu vững vàng thì công trình nghiên cứu đó có thể có một vài phân tích không được chắc chắn, nhưng những nền tảng sử liệu vẫn tồn tại bền vững và lâu dài. Đã là sử học thì phải nói đến sử liệu; sử liệu là nền tảng, là chứng cứ để trên cơ sở đó, người nghiên cứu đưa ra các phân tích, khái quát có tầm lý luận.
Công trình này của tôi không phải là công trình chuyên khảo nhưng tôi dựa trên nhiều công trình chuyên khảo của các bạn đồng nghiệp. Ví dụ, nghiên cứu về thời cổ đại, tôi có khái quát trên cơ sở quan điểm toàn bộ lịch sử Việt Nam thì lịch sử cổ đại Việt Nam không chỉ có lịch sử của nhà nước Văn Lang, Âu Lạc mà bao gồm nhà nước Chăm Pa và nền văn hóa Sa Huỳnh ở miền Trung, văn hóa Ốc Eo và nhà nước Phù Nam ở Nam Bộ. Tôi tận dụng các kết quả nghiên cứu chuyên sâu này để đưa vào tập sách và tự mình phải cập nhật những kết quả nghiên cứu của mình cũng như của các nhà sử học trong và ngoài nước.
Phóng viên: Giáo sư đánh giá như thế nào về vai trò của khoa học xã hội trong giai đoạn hiện nay?
GS, NGND Phan Huy Lê: Tất cả các ngành khoa học đều vì cuộc sống hôm nay và phát triển đất nước trong tương lai. Nhưng mối quan hệ giữa khoa học với thực tiễn và khoa học với chính trị thì có sự khác nhau giữa các ngành khoa học. Có ngành khoa học nghiên cứu trực tiếp vào thẳng các vấn đề kinh tế, xã hội. Nhưng cũng có những ngành khoa học có khoảng cách nhất định. Tất cả các ngành khoa học, xét đến cùng đều đóng góp cho sự hiểu biết về quá khứ của mình và cung cấp những căn cứ rất cần thiết cho việc hoạch định chính sách của các nhà lãnh đạo cũng như xử lý các vấn đề có liên quan.
Ví dụ như khi xác lập nhận thức về lịch sử Việt Nam phải bao gồm tất cả lịch sử và văn hóa các cộng đồng cư dân sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam. Lịch sử đã xác nhận Chăm Pa, Phù Nam là một bộ phận của Việt Nam. Kết luận như vậy có ý nghĩa nhận thức rất lớn nhưng ý nghĩa thực tiễn cũng rất sâu sắc, giúp người tiếp cận có thái độ rất mới với cư dân của Chăm Pa, Phù Nam, nhất là các di sản văn hóa của họ để lại. Các di sản này chính là một bộ phận của văn hóa Việt Nam và ta phải có trách nhiệm bảo tồn như các di sản khác trong kho tàng di sản của cộng đồng dân tộc Việt Nam nói chung.
Phóng viên: Xin Giáo sư cho biết, phương pháp tiếp cận này đã góp phần như thế nào trong việc xây dựng bộ Lịch sử Việt Nam - Quốc sử, đang rất được quan tâm?
GS, NGND Phan Huy Lê: Tôi và một số đồng nghiệp được giao biên soạn bộ "Lịch sử Việt Nam" mang tính quốc gia, thường được gọi là Quốc sử. Đây là bộ sử cực kỳ đồ sộ, với 25 tập từ thời nguyên thủy đến năm 2015 và 5 tập Biên niên sự kiện.
Trong biên soạn bộ Quốc sử, có một số vấn đề đặt ra trong cuốn sách được tiếp nhận, trở thành quan điểm chỉ đạo trong công tác biên soạn. Ví dụ như quan điểm toàn diện và toàn bộ của lịch sử Việt Nam được nêu lên hàng đầu trong biên soạn. Bộ Quốc sử này biên soạn lịch sử Việt Nam theo quan điểm mới, tức là không phải chỉ lịch sử của người Việt. Việt Nam có tới 54 dân tộc và 53 dân tộc còn lại cũng có lịch sử, có đóng góp nhất định trong công cuộc xây dựng, bảo vệ đất nước và sáng tạo văn hóa. Do vậy, bộ Quốc sử phải thể hiện được tính đa tộc người, tính toàn bộ của lịch sử Việt Nam. Đây là một trong những quan điểm chi phối trong biên soạn Quốc sử. Mặt khác, nếu chỉ nhìn lịch sử Việt Nam ở góc độ lịch sử chống ngoại xâm thì rất hạn hẹp, khiến việc nhìn nhận lịch sử nước nhà không toàn diện. Việt Nam không chỉ có kháng chiến chống ngoại xâm mà còn có mặt xây dựng đất nước và xây dựng đất nước mới là nền tảng. Trên cơ sở xây dựng nền tảng vững chắc mới có đủ thực lực để bảo vệ đất nước. Trong bộ sách này, bên cạnh vị trí thích đáng của chống ngoại xâm thì đã trình bày lịch sử một cách rất toàn diện ở tất cả các lĩnh vực, nhất là hướng về con người, lấy con người làm trung tâm...
Phóng viên: Xin cảm ơn Giáo sư!
MINH MẠNH (thực hiện)