Thành lập Đại học Nông nghiệp Quốc gia Việt Nam và bài học giữ vững căn cơ chuyên ngành

Bước vào Kỷ nguyên phát triển mới, ngành nông nghiệp Việt Nam mang trên mình những sứ mệnh chiến lược chưa từng có: Chuyển dịch sang mô hình tăng trưởng xanh, bền vững và thực hiện cam kết quốc tế cắt giảm phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050 (Nông nghiệp Net Zero). Nông nghiệp không chỉ là trụ đỡ kinh tế, bảo đảm an ninh lương thực mà còn là "tấm bạt lò xo" ổn định xã hội trong mọi đợt biến động toàn cầu. Để thực thi sứ mệnh này, đất nước cần một đại học đa ngành nông nghiệp thực sự mạnh, có năng lực sánh ngang với các định chế hàng đầu thế giới như Wageningen (Hà Lan), Cornell (Mỹ) hay CAU (Trung Quốc).

Sinh viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền tham gia Cuộc thi “Thông điệp xanh” lần thứ VI. Ảnh: qdnd.vn 

Phương án thứ nhất đề xuất hợp nhất Học viện Nông nghiệp Việt Nam (HVN) với các trường cùng khối, trên cùng một vùng địa lý, thành Đại học Nông nghiệp Quốc gia Việt Nam (hoặc mang tên gọi di sản là Học viện Nông Lâm như các bậc tiền bối đã đặt tên), đặt trụ sở chính tại Gia Lâm (Hà Nội). Đồng thời, thực hiện sáp nhập hữu cơ với các viện nghiên cứu lớn của ngành vào Đại học Nông nghiệp Quốc gia theo mô hình "Trường trong Trường, Viện trong Trường, Trường trong Viện" thực chất. Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường TP Hồ Chí Minh và Trường Chính sách công và Phát triển nông thôn sẽ được hợp nhất (có điều kiện) thành Phân hiệu phía Nam của Đại học này, tạo nên cấu trúc đa phân hiệu liên thông và tối ưu hóa tài nguyên.

Một câu hỏi mang tính nguyên tắc đặt ra: Vì sao Đại học Nông nghiệp Quốc gia cần phải ở lại dưới sự quản lý chuyên ngành của Bộ Nông nghiệp và Môi trường mà không chuyển về Bộ Giáo dục và Đào tạo? Thực tiễn lịch sử và lý luận quản trị đã cung cấp câu trả lời rất rõ ràng. Khác với các ngành kinh tế hay dịch vụ có khả năng xã hội hóa cao, đối tượng người học ngành nông - lâm - ngư chủ yếu là con em nông dân, vùng sâu, vùng xa, nên học phí không thể tăng cao. Trong khi đó, chi phí đào tạo thực địa (lâm trường, ngư trường, hệ thống phòng thí nghiệm) lại cực kỳ tốn kém. Nếu đưa về Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý chung, dưới áp lực tự chủ tài chính đơn thuần, các trường nông nghiệp sẽ nhanh chóng bị "bỏ đói" dòng vốn đầu tư công đặc thù, buộc phải "hòa tan" và mở tràn lan các ngành thương mại đại trà để sinh tồn, từ đó bỏ rơi sứ mệnh Net Zero vĩ mô.

Kiến tạo Đại học Công chánh Quốc gia và giải pháp kỹ trị bổ trợ

Song song với khối Nông nghiệp, phương án thứ hai đề xuất một cuộc đại hợp nhất 5 trường đại học hàng đầu về hạ tầng tại miền Bắc: Trường Đại học Thủy lợi, Trường Đại học Giao thông Vận tải, Trường Đại học Công nghệ Giao thông vận tải, Trường Đại học Xây dựng Hà Nội và Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội. Sự tích hợp này sẽ hình thành một “siêu” đại học đa ngành về hạ tầng vật chất và kỹ thuật công nghệ trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo, mang tên gọi Đại học Công chánh Quốc gia.

Tên gọi "Công chánh" không chỉ mang giá trị lịch sử sâu sắc - gợi nhớ về Trường Cao đẳng Công chánh thuộc Viện Đại học Đông Dương, mà còn thể hiện triết lý tích hợp vĩ mô giữa ba trụ cột: Nước - Đường - Nhà. Sự hợp lực giữa Thủy lợi, Giao thông, Xây dựng và Kiến trúc dưới một mái nhà chung sẽ chấm dứt tình trạng cắt khúc công trình, nhờ thế sẽ đào tạo ra những thế hệ Tổng công trình sư mang tầm vóc chiến lược. Đây chính là lực lượng nòng cốt đủ sức làm chủ công nghệ và trực tiếp chỉ huy các siêu dự án thế kỷ của đất nước, từ hệ thống đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam, các tuyến đường sắt đô thị hiện đại, cho đến hệ thống đê biển, hồ đập khổng lồ thích ứng với biến đổi khí hậu.

Tuy nhiên, việc điều chuyển Trường Đại học Thủy lợi sang khối Công chánh vĩ mô cũng đặt ra rủi ro làm sụt giảm mảng khoa học nước phục vụ trực tiếp cho canh nông. Để giải quyết bài toán này, giải pháp kỹ trị bổ trợ cần được thiết lập: Toàn bộ mảng đào tạo, nghiên cứu về Thủy nông và thủy lợi nhỏ (tưới tiêu tiết kiệm, đê điều cấp xã, phòng chống thiên tai tại chỗ và hồ chứa nhỏ ở nông thôn) từ Đại học Thủy lợi sẽ được chuyển giao toàn bộ về Đại học Nông nghiệp Quốc gia Việt Nam.

Sự phân định hợp lý này vừa giúp Đại học Công chánh Quốc gia tập trung toàn lực cho các siêu công trình thủy văn vĩ mô (đập lớn, đê biển, cảng biển), vừa giúp mảng thủy lợi nhỏ tích hợp hữu cơ, sâu sắc với thổ nhưỡng học, khoa học cây trồng và kinh tế nông thôn tại Đại học Nông nghiệp Quốc gia. Đó chính là sự kết hợp biện chứng giữa "Quy mô" (Scale) để tích tụ sức mạnh và "Độ sâu" (Depth) để giữ vững giá trị chuyên môn cốt lõi - con đường duy nhất để đưa hệ thống giáo dục đại học Việt Nam bứt phá thành công.

Kiến tạo khung quy chế nhân sự Sandbox và ma trận định lượng hiệu suất

Để các đại học sau sáp nhập thực sự vươn lên tầm vóc quốc tế, việc phá vỡ những rào cản xơ cứng của Luật Viên chức đối với đội ngũ tinh hoa là yêu cầu sống còn. Khung quy chế nhân sự Sandbox ra đời nhằm thiết lập một không gian thể chế đặc thù, dựa trên triết lý niềm tin thể chế và đãi ngộ xứng đáng đối với trí thức đỉnh cao. Điểm đột phá đầu tiên là việc thành lập Ủy ban Tìm kiếm Nhân sự (Search Committee) độc lập để tuyển chọn các vị trí từ Trưởng bộ môn đến Hiệu trưởng. Ủy ban này bao gồm tối thiểu 50% thành viên ngoài trường (đại diện tập đoàn công nghệ lớn, chuyên gia quốc tế, cựu sinh viên xuất sắc), loại bỏ hoàn toàn tình trạng bầu cử cảm tính bè phái. Ứng viên trúng tuyển phải thông qua quy trình cạnh tranh công khai, bảo vệ Đề án chiến lược và cam kết KPIs trước hội đồng và toàn trường.

Về chính sách đãi ngộ, cơ chế tài chính “Ring-fencing” được áp dụng để “đóng băng” nguồn tài chính tối thiểu, dành riêng 15% - 20% nguồn kinh phí R&D từ ngân sách nhà nước để chi trả lương thỏa thuận vượt khung (lên tới hàng trăm triệu đồng/tháng) cho các chuyên gia đầu ngành, đồng thời cấp gói hỗ trợ khởi động nghiên cứu (Startup Lab Fund) từ vài tỷ đến hàng chục tỷ đồng cho các nhà khoa học trẻ và Giáo sư chủ trì phòng thí nghiệm trọng điểm. Song song với đó, quy chế Sandbox áp dụng cơ chế luân chuyển chéo “Cửa xoay” (Revolving Door) giữa cơ sở chính và các phân hiệu, cũng như giữa nhà trường và doanh nghiệp, nhằm đồng bộ hóa chất lượng và triệt tiêu tư duy cát cứ địa phương.

 Trường Đại học Thương mại tư vấn xét tuyển nguyện vọng xét tuyển năm 2026. Ảnh: qdnd.vn

Đặc biệt, quy chế thiết lập những quy định cứng rắn nhằm quét sạch vấn nạn "cận huyết" học thuật: Cấm tuyệt đối việc tuyển dụng sinh viên vừa tốt nghiệp giữ lại trường làm giảng viên cơ hữu nếu chưa qua tối thiểu 3 năm công tác thực tế hoặc đào tạo sau đại học ở cơ sở giáo dục đại học uy tín khác; đồng thời ấn định tỷ lệ nhân sự "ngoại sinh" mới, đạt từ 30% - 40% mỗi năm. Toàn bộ hoạt động quản trị này được định lượng hóa bằng ma trận các KPIs trọng tâm về nghiên cứu khoa học, ưu tiên các sản phẩm phục vụ quốc kế dân sinh, tỷ lệ việc làm đúng ngành của sinh viên qua dữ liệu bảo hiểm xã hội, và tỷ lệ luân chuyển cán bộ.

Thông qua nghệ thuật "nhịp cầu thế hệ", những bậc "đại thụ" học thuật, sau nhiều năm cống hiến, có thể tự nguyện rút khỏi áp lực hành chính hàng ngày để trở thành những "người giữ đền" truyền lửa tư tưởng, làm cố vấn chiến lược, đồng thời dứt khoát trao lại không gian điều hành trực tiếp cho thế hệ tinh hoa trẻ kế cận.

Sự phản biện nghiêm cẩn của lớp thế hệ đi trước không nhằm níu kéo sự trì trệ, mà là tấm bản đồ tri thức để thế hệ hậu sinh tự tin bứt phá, phụng sự cho khát vọng đưa đất nước bước vào Kỷ nguyên vươn mình giàu mạnh, thịnh vượng.