Nhân dịp đầu Xuân năm mới, GS.VS Đào Trọng Thi, nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội đã chia sẻ với Báo Quân đội nhân dân Điện tử về một số vấn đề cần quan tâm đối với giáo dục phổ thông và đại học, nhằm tìm ra những giải pháp hữu hiệu cho ngành giáo dục trong năm 2017 và những năm tiếp theo.
Chất lượng giáo dục ĐH đang là vấn đề đáng quan tâm. Ảnh: Thu Hà
4 nhóm vấn đề cần quan tâm với giáo dục phổ thông
Nhóm thứ 1, tiếp tục hoàn thiện phương án thi cử. Hiện đã đi đúng hướng, nhưng đang theo lộ trình (đổi mới chương trình, sách giáo khoa), nên chưa thể có được phương án thực sự triệt để. Vì vậy mỗi lần đổi mới là một lần tiến dần đến đích cuối cùng của lộ trình.
Bộ GD-ĐT đã có bước tiến là áp dụng thi trắc nghiệm để hạn chế tính tiêu cực của kỳ thi THPT và trong tương lai gần, khi đã đổi mới chương trình, sách giáo khoa thì hai môn tổ hợp (khoa học tự nhiên và khoa học xã hội) sẽ được thay thế bằng bài thi tích hợp. Năm nay, kỳ thi THPT gần như được phân cấp triệt để, giao cho các địa phương, các sở GD-ĐT. Xa hơn nữa có thể phân cho các trường THPT, khi đã có ngân hàng đề thi, các trường chỉ cần cho vào máy lọc đề thi là có thể tổ chức một kỳ thi ở quy mô trường và tổ chức nhiều buổi chứ không nhất thiết làm đồng thời một lúc. Như vậy sẽ đơn giản, đỡ tốn kém hơn nhiều.
Nhóm thứ 2 rất quan trọng đó là đổi mới chương trình, sách giáo khoa. Theo Nghị quyết Quốc hội, năm 2018 chúng ta phải có để triển khai cuốn chiếu cho từng cấp học. Nhưng đến thời điểm này chúng tôi rất băn khoăn, sốt ruột vì thấy “yên tĩnh” quá. Giờ có địa phương như TP Hồ Chí Minh biên soạn bộ sách riêng. Tôi cho rằng nếu làm như vậy là trái với Nghị quyết Quốc hội. Chúng ta chủ trương một chương trình, nhiều sách giáo khoa là chúng ta vận động các tổ chức, cá nhân tham gia viết thêm sách giáo khoa, để nhà trường, học sinh, thầy cô có điều kiện lựa chọn rộng rãi hơn, và như vậy không thể địa phương đứng ra làm. Nếu địa phương đứng ra làm, thì kể cả không yêu cầu các trường thực hiện thì các trường cũng phải theo. Như vậy thì mỗi địa phương cục bộ lại có một bộ sách giáo khoa, bắt học sinh của mình phải học theo bộ sách đó, như vậy không đúng. Trong Nghị quyết Quốc hội nói rõ là một chương trình nhiều bộ sách giáo khoa nhưng người lựa chọn sách giáo khoa để học là nhà trường (Ban giám hiệu quyết định trên cơ sở ý kiến của các thầy cô giáo và có tham khảo ý kiến của phụ huynh và học sinh).
Nhóm thứ 3 là phân luồng học sinh, giữa học THPT lên ĐH với các em đi học các trình độ giáo dục nghề nghiệp. Chúng ta phải chủ động phân luồng để làm sao học sinh ngay từ sau THCS lựa chọn luôn định hướng đi theo học nghề. Học nghề không cần cả chương trình THPT. Nếu các em học trung cấp nghề nghiệp, các em vừa học được nghề để ra làm nghề, đồng thời vẫn được bổ túc thêm kiến thức giáo dục phổ thông mà không phải học toàn bộ 3 năm THPT; chỉ cần học 1 năm. Luật Giáo dục nghề nghiệp vừa rồi đã tính đến và khi làm Luật Giáo dục nghề nghiệp, chúng tôi tích cực đến mức miễn học phí cho các em sau THCS chuyển sang học nghề nghiệp, nhưng có lẽ chưa đủ mạnh để chiến thẳng tâm lý vẫn muốn học lên.
Dự thảo quy chế tuyển sinh vừa qua đã đề ra chuyện bỏ điểm sàn và mở nguyện vọng không hạn chế, có thể mở toang cửa vào ĐH, nhưng việc này có thể giảm đi kết quả phân luồng. Tôi cho rằng, chủ trương này cần tính kỹ, xem có đảm bảo chất lượng đầu vào ĐH không? có ảnh hưởng đến chủ trương phân luồng không? Cái này phải suy nghĩ kỹ, nếu không sẽ là một rủi ro lớn về chính sách.
Nhóm cuối cùng là dạy thêm học thêm. Có mấy nguyên tắc để chống biến tướng trong dạy thêm học thêm là: Học sinh phải được lựa chọn học môn gì, học thầy nào trên tinh thần tự nguyện. Muốn đảm bảo điều đó, có 2 việc phải làm là nhà trường không tổ chức dạy thêm trong trường và thầy cô giáo không dạy học sinh chính khóa của mình. Các em có nhu cầu có thể học ở ngoài, không bị phụ thuộc vào nhà trường, nhưng phải có sự quản lý tốt các hệ thống, cơ sở bồi dưỡng kiến thức, dạy thêm ở ngoài để đảm bảo chất lượng, về đội ngũ thầy cô giáo, cơ sở vật chất, chương trình nội dung… và kiểm soát chất lượng, kiểm soát vấn đề tài chính. Nếu làm được như vậy thì chắc chắn việc dạy học thêm ít nhất là theo tinh thần tự nguyện. Trong tương lai, nếu ta đảm bảo đời sống cho giáo viên, thì không nên cho các thầy cô giáo được tham gia dạy thêm nữa, để dành thời gian chăm lo làm tốt công việc của mình.
Giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp
Đối với Giáo dục ĐH, giáo dục nghề nghiệp, đây là khu vực còn nhiều lo ngại về chất lượng, nó ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Nếu có sự kiểm định chất lượng, công khai minh bạch, công bố cho dư luận xã hội giám sát, quản lý thì chắc chắn sẽ tạo ra một văn hóa về chất lượng; các trường sẽ phải phấn đấu để nâng cao chất lượng, nâng cao uy tín, thu hút người học. Hiện nay chúng ta đã tham gia vào các thị trường kinh tế như ASEAN … nếu không làm mạnh chúng ta sẽ thua thiệt trong cuộc cạnh tranh.
Thứ 2, là các trường ĐH, bên cạnh kiểm định chất lượng, cũng phải tổ chức xếp hạng, phân tầng để xác định rõ định hướng phát triển, cũng như chức năng nhiệm vụ, phấn đấu để đạt được uy tín, chất lượng nhiều hơn. Vừa rồi, Bộ GD-ĐT làm lại quy chế đào tạo tiến sĩ cũng là một bước để tăng cường hơn chất lượng của trình độ đào tạo cao nhất. Đào tạo các nhà học thuật, các nhà nghiên cứu cần chất lượng, không cần số lượng; chất lượng phải bám vào các chuẩn mực quốc tế để phấn đấu.
Cùng với đó, xã hội hóa giáo dục ĐH và giáo dục nghề nghiệp rất quan trọng, vì cơ sở giáo dục công lập của nước ta trong 2 lĩnh vực này còn thấp. Công tác xã hội hóa cần làm tốt hơn, phấn đấu để tỷ lệ ngoài công lập tăng nhanh theo đúng mục tiêu đề ra là 40%. Giáo dục ngoài công lập nên gắn với doanh nghiệp, phát triển mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp do doanh nghiệp thành lập. Học gắn với làm, gắn với sản xuất kinh doanh sẽ mang lại hiệu quảtốt nhất.
Một vấn đề quan trọng khác là tự chủ trong giáo dục đại học. Đặc biệt là tự chủ ở các trường công lập bởi hiện nay đang vướng. Đó là vì họ không phải "ông chủ" thực sự nên không có quyền tuyệt đối về tài chính. Do đó phải tìm cách phân loại, đưa ra các quyền tự chủ ở các mức khác nhau cho các trường công lập. Đối với tự chủ về tổ chức nhân sự, có thể giao một số quyền theo nghĩa phân cấp, bỏ bớt quyền của Bộ chủ quản và tiến tới là bỏ bộ chủ quản. Còn đối với tự chủ tài chính, chúng ta phải phân loại theo tinh thần đơn vị nào tự đảm bảo chi phí thường xuyên và chi phí đầu tư ở mức độ càng cao thì sẽ được tự chủ tài chính càng cao và đảm bảo đúng pháp luật.
KHÁNH HÀ - VIỆT ANH (ghi)