Di sản vô giá của cộng đồng

Lần đầu đến với Tuyên Quang, chị Nguyễn Thị Hoa (tỉnh Bắc Ninh) thực sự choáng ngợp trước thiên nhiên hùng vỹ và đặc biệt ấn tượng với những công trình kiến trúc truyền thống nơi đây. “Tôi đã đến thăm phố cổ Đồng Văn; Dinh thự họ Vương... Những công trình kiến trúc này rất độc đáo, mang trong mình bản sắc văn hóa, tinh thần và quan niệm sống của người bản địa. Đó chính là điều khiến tôi muốn quay trở lại đây một lần nữa để khám phá kỹ hơn”, chị Hoa chia sẻ.

Nhiều du khách đều muốn quay lại Tuyên Quang nhiều lần bởi sức hấp dẫn của di sản văn hóa bản địa đặc sắc, đa dạng. Thực tế, Tuyên Quang là nơi cư trú lâu đời của nhiều dân tộc thiểu số như Mông, Dao, Lô Lô, Pu Péo, Tày, Nùng…. Qua hàng trăm năm lịch sử, mỗi cộng đồng đã kiến tạo cho mình một không gian văn hóa riêng, phản ánh sinh động mối quan hệ hài hòa giữa con người với thiên nhiên, giữa đời sống vật chất và tinh thần.

Những giá trị ấy kết tinh rõ nét nhất trong kiến trúc truyền thống và các di sản văn hóa phi vật thể – hai trụ cột làm nên “hồn cốt” văn hóa của vùng đất địa đầu phía Bắc Tổ quốc. Trong bối cảnh khách du lịch hướng đến trải nghiệm, khám phá chiều sâu văn hóa bản địa, chính những di sản ấy đã trở thành lợi thế cạnh tranh đặc biệt của Tuyên Quang.

 Khai thác du lịch thì văn hóa bản địa ở làng Lô Lô Chải  

Theo đánh giá của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Tuyên Quang, hệ thống kiến trúc truyền thống của đồng bào bản địa là kết quả của quá trình thích nghi bền bỉ giữa con người với điều kiện tự nhiên, khí hậu và môi trường sinh sống. Từ nhà sàn của người Tày, Nùng, Dao, Cao Lan… đến nhà trình tường của người Mông, Lô Lô, mỗi loại hình kiến trúc đều mang dấu ấn văn hóa tộc người rõ nét, phản ánh tri thức dân gian, quan niệm thẩm mỹ và tín ngưỡng truyền thống.

Ngoài ra, Tuyên Quang còn lưu giữ nhiều công trình kiến trúc tín ngưỡng có giá trị đặc biệt như đình Tân Trào, đình Hồng Thái - những biểu tượng kiến trúc tiêu biểu của người Tày, gắn liền với lịch sử cách mạng Việt Nam.

Nếu kiến trúc là phần “xác” thì văn hóa phi vật thể chính là “linh hồn” thổi sức sống vào từng bản làng. Tuyên Quang hiện kiểm kê được 871 di sản văn hóa phi vật thể. Các lễ hội truyền thống như Lồng Tồng, Cầu mùa, Nhảy lửa, Gầu Tào, … không chỉ là sinh hoạt tín ngưỡng mà đã trở thành sản phẩm du lịch đặc sắc, thu hút du khách trong và ngoài nước.

Khi di sản trở thành nguồn lực xóa đói giảm nghèo

Điểm then chốt trong cách tiếp cận của Tuyên Quang là xác định cộng đồng là chủ thể của di sản và cũng là trung tâm của quá trình phát triển du lịch. Thông qua mô hình du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn kiến trúc và văn hóa bản địa, di sản đã được “đánh thức” để tạo sinh kế cho người dân: Làm homestay trong nhà sàn truyền thống, tổ chức trải nghiệm lễ hội, trình diễn nghệ thuật dân gian, sản xuất và bán sản phẩm thủ công, ẩm thực bản địa.

Có tuổi đời hơn 100 năm, dinh thự họ Vương không chỉ có giá trị kiến trúc mà còn mang trong mình nhiều giá trị lịch sử, giá trị văn hóa 

Anh Lý Tả Quân, chủ một homestay ở thôn Nặm Đăm, xã Quản Bạ chia sẻ: “Chúng tôi chỉ sử dụng vật liệu gỗ, đất, đá để làm nhà trình tường theo truyền thống ông cha để lại. Đây cũng là cách để chúng tôi giữ gìn bản sắc văn hóa và thu hút khách du lịch”.

Việc phát triển du lịch cộng đồng đã mang lại sự đổi thay tích cực ở Nặm Đăm. Bà con ý thức hơn về việc gìn giữ bản sắc văn hóa để phát triển du lịch, kinh tế hộ gia đình nhờ du lịch được nâng lên. “So với làm ruộng thì làm du lịch cộng đồng mang lại thu nhập tốt hơn nhiều. Từ ngày làm du lịch, thôn chúng tôi như được thay da, đổi thịt, nhà cửa khang trang, hộ nghèo giảm đi nhanh chóng”, anh Quân cho biết.

 

Dinh thự họ Vương, công trình kiến trúc độc đáo thu hút hàng trăm nghìn lượt khách tới thăm mỗi năm.

 

Hiện nay, toàn tỉnh Tuyên Quang có 54 làng văn hóa, du lịch cộng đồng. Nhiều mô hình đã được quốc tế ghi nhận, tiêu biểu như thôn Nặm Đăm đạt Giải thưởng Du lịch Cộng đồng ASEAN, Làng Lô Lô Chải được UN Tourism vinh danh là “Làng du lịch tốt nhất thế giới”. Những thành công này cho thấy, khi di sản được bảo tồn đúng cách và khai thác hợp lý, nó không chỉ giữ gìn bản sắc mà còn trực tiếp góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số./.