leftcenterrightdel
Cán bộ Đoàn Kinh tế - Quốc phòng 379 hỗ trợ nhân dân bản Tàng Phom, xã Quảng Lâm (Mường Nhé, Điện Biên) ngan, vịt giống, tháng 10-2018.

Ðời sống vật chất, tinh thần của người dân ở gần 40 xã trên vùng biên giới cực Tây Tổ quốc từng bước được cải thiện. Không bản làng, cánh rừng nào, cũng chẳng con dốc, nguồn suối nào vắng dấu chân của cán bộ, chiến sĩ.

Ký ức “Ba Chà”

Hai mươi mùa xuân trước, Xuân Kỷ Mão 1999, khi những cánh hoa ban trắng rừng Tây Bắc chưa tàn, đã có những cán bộ, chiến sĩ Đoàn KT-QP 379 tiền trạm lên khu “Ba Chà” đầy rẫy những khó khăn. Vị trí đứng chân ban đầu của đoàn bộ tại huyện Mường Chà, tỉnh Lai Châu (nay thuộc tỉnh Điện Biên), bắt đầu đặt nền móng cho nhiệm vụ xây dựng các dự án KT-QP, địa bàn rộng trên 2.300km2 giáp biên giới.

Trong quy hoạch của trên, thời ấy, Khu KT-QP Mường Chà gồm các huyện: Mường Chà, Mường Nhé, Nậm Pồ và một phần của Mường Tè (Lai Châu). “Ba Chà” là tên gọi tắt của các xã: Chà Cang-Chà Tở-Chà Nưa, vốn là 3 xã thuộc huyện Mường Lay. Khi thành lập Mường Chà, Mường Lay được xóa bỏ, thay vào đó là huyện Nậm Pồ. Riêng địa bàn 15 xã thuộc huyện Nậm Pồ ngày nay thì có đến 13 xã thuộc địa bàn Chà Cang xưa kia phân tách ra.

leftcenterrightdel
Bộ đội Đoàn Kinh tế - Quốc phòng 379 giúp nhân dân bản Pa Có, xã Chà Nưa (Nậm Pồ, Điện Biên) khắc phục hậu quả thiên ta, ngày 29-8-2018.

Những cán bộ, chiến sĩ trong đội quân “tiên phong mở đất” khi ấy, nay còn công tác thì cũng đã phát triển, trở thành cán bộ cao cấp. Nhưng trong ký ức của họ, “Ba Chà” gian khó còn in đậm trong tâm trí. Nơi đóng quân của đoàn ngày ấy còn chưa chính thức có đường vào, mà chỉ là những lối mòn luồn theo khe núi, vực sâu, xuyên qua địa bàn các xã. Vốn từ thị xã Lai Châu trước đây (nay là thị xã Mường Lay) vào có đường ô tô đi, nhưng cũng chỉ đến Km45; còn từ Km45 đi bộ xuyên con đường mòn 40 cây số. Bà con cùng bộ đội chuyển hàng từ thị xã vào khu “Ba Chà”, tất cả là gùi, sang lắm thì có ngựa thồ. Đường mòn trải dài 40 cây số, mùa mưa trơn trượt, khó đi, mà mưa Tây Bắc nơi heo hút ấy kéo dài từ cuối tháng 4 đến hết tháng 9 hằng năm. Tuy thế, con đường mòn dài như sợi chỉ ấy là con đường giao thương huyết mạch, là con đường bảo đảm sinh sống của bà con các dân tộc trong vùng.

Vì quá xa xôi hẻo lánh, đi lại khó khăn, điện thoại ra đến trung tâm huyện dùng máy bàn mới liên lạc được, báo chí, điện khẩn cả tháng mới đến nơi, nên có những cán bộ, chiến sĩ khi có tin buồn từ gia đình, nhận được rồi trở về lo công việc thì cũng trôi qua cả tháng trời.

Còn bao nhiêu khó khăn khác vẫn in đậm trong ký ức của cán bộ, chiến sĩ thời ấy. Khi đó, hầu hết các bản đều chưa có đảng viên; tỷ lệ hộ đói nghèo của các xã đều ở mức hơn 92%. Cuộc sống nhiều không: Không đường, không trường, không chợ; trạm thì chỉ duy có một là Trạm Y tế bản Nà Hỳ tách ra từ trạm thuộc xã Chà Cang. Nhà của đồng bào hầu hết là tạm bợ, lợp, thưng tre-nứa-lá. Nếp ăn uống, sinh hoạt của bà con vẫn là du canh, du cư, chủ yếu từ nơi khác đến nên hầu như các nhà không có trâu, bò, có gà, lợn nhưng không chuồng trại; dùng gậy chọc lỗ tra hạt là chủ yếu. Bà con kiếm được gì ăn nấy; hàng hóa không lưu thông, có làm ra, có săn bắt cũng không bán được bởi từ các bản xa về trung tâm xã Nà Hỳ cũng mất cả ngày đường. Thông thường hằng tháng, bà con chỉ đến trung tâm vài ba bận để giao lưu hàng hóa, mùa mưa thì dứt hẳn. Vì thế, chuyện đứt bữa, thiếu gạo là thường xuyên. Muối ăn với bà con còn quý hơn vàng...

leftcenterrightdel
Đoàn Kinh tế - Quốc phòng 379 tổ chức hỗ trợ gạo giúp nhân dân bản Mường Toong 6, xã Mường Toong (Mường Nhé, Điện Biên), tháng 6-2018. Ảnh: NGUYỄN HUÂN

Đã vậy, phong tục tập quán của bà con còn nhiều lạc hậu. Việc cưới xin kéo dài đến vài ba ngày. Người ốm thì mời thầy mo đến nương hoặc về cúng tại nhà. Người chết để lưu vài ngày, thậm chí hàng tuần mới đem chôn. Theo “cái lý” của đồng bào, chết là về với Giàng nên không được khóc. Người chết cũng phải được ăn, được chia của. Vì thế mới có tục người chết đã vài ngày nằm đấy, người sống đi qua, cầm nhúm xôi chấm vào miệng người chết, sau đó mới được ăn. Trong bản, trong dòng họ có người về với Giàng thì nhà nào có rượu, có thịt cầm đến để chia cho người chết.

Bộ đội Đoàn KT-QP 379 về, đến thăm các gia đình chỉ có đàn ông trẻ và con trai nói tiếng phổ thông, còn con gái hầu như không biết, nếu có biết lõm bõm cũng không dám tiếp xúc vì e dè, vì sợ.

Nói dân nghe, làm dân theo

Câu nói “Ruồi vàng, bọ chó, gió Tây Trang” cùng với những đặc điểm trên chưa thể kể hết những khó khăn của Đoàn KT-QP 379 những ngày mới mở đất cực Tây. Cán bộ, chiến sĩ đơn vị phải động viên nhau xác định tư tưởng, trách nhiệm, quyết tâm cao để từng bước vượt qua khó khăn, thách thức ban đầu. Vừa được sự hỗ trợ, giúp đỡ của trên, vừa phát huy nội lực, sức mạnh tập thể, ổn định cuộc sống để đủ điều kiện đứng chân ở vùng KT-QP này. Những cơ sở vật chất đầu tiên, như nhà ở của cán bộ, chiến sĩ Nông trường 1 của đoàn được trên huy động trực thăng chở nhà lắp ghép đến ghép tạm.

leftcenterrightdel
Cán bộ, đoàn viên, trí thức trẻ tình nguyện Đoàn Kinh tế - Quốc phòng 379 giúp nhân dân bản Mường Toong, xã Mường Toong (Mường Nhé, Điện Biên) dựng nhà, tháng 7-2018.

Đảng ủy, chỉ huy Đoàn KT-QP 379 xác định, nhiệm vụ cần kíp là phải nhanh chóng giúp nhân dân thay đổi nhận thức và tập quán canh tác, sản xuất để ổn định đời sống. Nhưng làm thế nào để đến với bà con, đó là câu hỏi khó không phải ngày một ngày hai có câu trả lời. Được sự chỉ đạo của trên, sự giúp đỡ của chính quyền tỉnh, huyện, cán bộ, chiến sĩ Đoàn KT-QP 379 đến với dân bắt đầu từ những việc làm nhỏ bé mà thiết thực nhất. Từ việc tự nguyện học và hiểu ngôn ngữ để có thể giao lưu, trao đổi với đồng bào, đến việc trồng ngô, trồng lúa nước để bà con tin và làm theo. Đồng bào vốn chỉ quen với du canh, du cư nên khi bộ đội Đoàn KT-QP 379 nhặt đá hộc, đập giập tre, nứa quây thành vườn ngay dưới chân các bản để trồng cây ngô, trồng rau thì họ ngạc nhiên lắm. Và bà con càng ngạc nhiên hơn bởi dưới bàn tay chăm sóc của bộ đội, bãi đất bỏ hoang bao đời nay lại hiện lên những sắc xanh mơn mởn của ngô, lúa, sắn, khoai, dong riềng… Vụ đầu tiên thu hoạch, ngoài phần dự trữ của đơn vị, các anh mang chia hết cho người dân các bản xung quanh. Vậy là từ đó, đồng bào bảo nhau học cách làm của “cái cán bộ” để tìm thấy “cái no” ngay từ những mảnh đất vốn hoang hóa.

5 năm đầu tiên, đoàn đã xây dựng được hàng chục công trình thủy lợi, bảo đảm tưới tiêu cho hơn 400ha lúa nước; cùng nhân dân xây dựng 15 cầu treo dân sinh và trên 100km đường giao thông nông thôn, đường liên bản… Đặc biệt, cán bộ, chiến sĩ hướng dẫn, tập huấn kỹ thuật chăn nuôi, trồng trọt cho hơn 6.000 lượt hộ gia đình với hàng vạn nhân khẩu.

Bộ đội Đoàn KT-QP 379 còn là lực lượng xung kích tham gia củng cố cơ sở chính trị, giữ gìn an ninh trật tự tại các xã thuộc những dự án KT-QP. Xưa kia, chính quyền các xã khó vươn tới các bản để nắm, quản lý, thì nay có các đội sản xuất của đoàn hỗ trợ, tham mưu xây dựng, củng cố các đoàn thể chính trị xã hội ở cơ sở, tạo nguồn phát triển Đảng, khắc phục tình trạng “trắng đảng viên” ở hơn 50 bản. Bằng cách làm “rà từng ngõ, gõ từng nhà”, cán bộ, chiến sĩ xuống các thôn, bản xa xôi thực hiện “4 cùng” với nhân dân, qua đó vận động bà con không tin theo các loại “tà đạo”, không nghe theo kẻ xấu; tuyên truyền đồng bào dần loại bỏ các hủ tục như tảo hôn, ma chay dài ngày… để từ đó vươn lên xây dựng đời sống văn hóa mới.

Điểm tựa vùng biên giới

Sau hai thập kỷ gắn bó với dải đất biên cương cực Tây của Tổ quốc, nhiều cán bộ, chiến sĩ Đoàn KT-QP 379 thực sự trở thành những người con của đồng bào các dân tộc nơi đây. Biết bao công sức, bao giọt mồ hôi và cả máu của các anh đã đổ xuống để giúp dân xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống. Đặc biệt, thời gian từ năm 2011 đến nay, thực hiện Phong trào “Quân đội chung sức xây dựng nông thôn mới”, đoàn đã không ngừng nỗ lực nâng cao hiệu quả công tác giúp các xã trên địa bàn phát triển kinh tế-xã hội. Nhiều mô hình trồng lúa nước hai vụ, trồng ngô, trồng rau, trồng cây ăn quả, măng bát độ, xây chuồng trại nuôi trâu, bò, dê; đào ao nuôi cá… được triển khai rộng rãi, trở thành phương thức canh tác chủ yếu của đồng bào.

3 năm gần đây, đoàn giúp dân xây dựng, làm mới 13 công trình thủy nông, thủy lợi phục vụ tưới tiêu cho khoảng 300ha lúa nước hai vụ; xây dựng 5 bệnh xá quân dân y kết hợp tại các xã biên giới khó khăn… Chỉ tính riêng tại huyện Mường Chà, mảnh đất đặc biệt khó khăn gắn liền với sự trưởng thành của đoàn, nếu hai chục năm trước, tỷ lệ đói nghèo của huyện là hơn 90%, tỷ lệ mù chữ hơn 80%, thì đến nay, tỷ lệ hộ nghèo của huyện giảm xuống còn hơn 40%, 100% trẻ em trong độ tuổi đều được đến trường, đời sống của đồng bào các dân tộc đã tiến bộ vượt bậc. Giờ đây, người Mông cơ bản ăn Tết Nguyên đán theo người Kinh. Đường, điện, trạm tỏa đến các bản. Thị tứ nào cũng có chợ giao thương. Nhiều nhà có ti vi, xe máy.

Những năm gần đây, bộ đội Đoàn KT-QP 379 đã cùng các lực lượng tuyên truyền, vận động nhân dân phá nhổ gần 4ha cây thuốc phiện; vận động và giúp đỡ hơn 3.000 học sinh bỏ học quay trở lại trường. Các đội công tác quần chúng, trí thức trẻ tình nguyện giúp dân xây 1.500 chuồng chăn nuôi gia súc bảo đảm vệ sinh; tham gia hơn 20.000 ngày công lao động giúp dân làm đường, khai khẩn đất hoang, mở mương dẫn nước… Từ đó đến nay, không riêng các xã, bản vùng cao như Nậm Chim, Sân Bay của huyện Mường Chà, mà những nơi xa xôi như Mường Toong, Huổi Chạ của huyện Mường Nhé hay các xã vùng sâu Si Pa Phìn, Nà Hỳ của huyện Nậm Pồ đều đổi thay từng ngày, hứa hẹn cuộc sống ấm no. Nhiều hộ trong xã từng nghe theo lời xúi giục của kẻ xấu bỏ đi di cư tự do, nay đã trở về cùng bà con và bộ đội dựng xây cuộc sống mới. Riêng năm 2017, tại 3 huyện: Mường Chà, Mường Nhé, Nậm Pồ, đoàn cử hơn 1.800 lượt cán bộ, chiến sĩ xuống các thôn, bản để tổ chức hơn 350 buổi tuyên truyền, vận động cho hơn 20.000 lượt đồng bào, góp phần củng cố hệ thống cơ sở chính trị, giữ ổn định tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Có thể thấy, trên mọi lĩnh vực từ phát triển kinh tế đến xây dựng cơ sở hạ tầng, nâng cao dân trí, cán bộ, chiến sĩ Đoàn KT-QP 379 đều để lại những dấu ấn sâu đậm trong lòng đồng bào các dân tộc ở một vùng biên giới, tô đẹp thêm hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ trong lòng nhân dân. 

Đại tá NGUYỄN VĂN HUÂN

Chính ủy Đoàn Kinh tế-Quốc phòng 379