QĐND - Gần đây, vấn đề tiền lương lại làm nóng dư luận. Báo cáo trước Quốc hội về dự toán ngân sách Nhà nước năm 2016, Bộ trưởng Bộ Tài chính cho biết, dự kiến trong năm tới sẽ không tăng lương cơ sở cho cán bộ công chức trong khu vực Nhà nước. Trước thực tế 4 năm liền, lương cơ sở trong khu vực Nhà nước không tăng, trong khi tiền lương tối thiểu khối doanh nghiệp và giá cả trong 4 năm qua vẫn tiếp tục tăng, nhiều đại biểu Quốc hội và cử tri đã lo ngại vì “tiền lương không thương cán bộ công chức Nhà nước”. Phát biểu trong phiên thảo luận tại tổ mới đây, một số đại biểu Quốc hội cho rằng, việc không tăng lương cho cán bộ công chức là một trong những nguyên nhân dẫn tới tình trạng công chức nhũng nhiễu. Lý giải về việc không thể tăng lương cơ sở trong năm 2016, Bộ Tài chính cho rằng, do không có nguồn để tăng, “tiền lương phải thương ngân sách Nhà nước”.

Ảnh minh họa.

 

Trước đó, sau nhiều tháng tranh luận, với 3 lần đàm phán, giới sử dụng lao động (đại diện là Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam) và đại diện người lao động là Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam mới thống nhất được mức tăng lương tối thiểu vùng năm 2016. So với năm 2015, mặt bằng lương tối thiểu vùng được đề xuất tăng trung bình là 12,4%. Với con số này, đại diện người lao động cho rằng, "tiền lương vẫn chưa thương người lao động" bởi lương tối thiểu của người lao động vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu sống tối thiểu của người lao động. Trong khi đó, giới sử dụng lao động lại lý giải mức tăng này là cao. Lương tăng có thể sẽ làm gia tăng tình trạng thua lỗ của các doanh nghiệp, buộc họ phải thu hẹp sản xuất, vì thế “tiền lương phải thương doanh nghiệp”.

Trong nền kinh tế thị trường, tiền lương là giá cả hàng hóa sức lao động, được hình thành qua thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động phù hợp với quan hệ cung cầu lao động. Tiền lương có vai trò đặc biệt quan trọng đối với cuộc sống của từng người, từng gia đình và toàn xã hội. Tiền lương có tác dụng bù đắp lại sức lao động cho người lao động. Đồng thời tiền lương cũng có tác dụng to lớn trong động viên, khuyến khích người lao động yên tâm làm việc. Tiền lương còn được coi như một thước đo về trình độ lành nghề và thâm niên nghề nghiệp.

Trong hoạt động công vụ, tiền lương là một trong những yếu tố tiên quyết thu hút và giữ được những người có tài năng tham gia hoạt động trong khu vực công, tránh hiện tượng chảy máu chất xám từ khu vực công sang khu vực tư.

Việc giải quyết chế độ tiền lương cần phải đạt được sự hài hòa giữa các lợi ích của người lao động, người sử dụng lao động và lợi ích của Nhà nước. Hay nói một cách khác, tiền lương phải “thương” nhiều phía. Lương quá thấp, người lao động không đủ sống sẽ ảnh hưởng tới năng suất, chất lượng, hiệu quả công việc của người lao động. Nhưng lương tăng quá cao sẽ ảnh hưởng tới chi phí đầu vào của doanh nghiệp, tới khả năng cạnh tranh của sản phẩm, của doanh nghiệp và cân đối ngân sách Nhà nước. Mấu chốt cho việc giải quyết hài hòa lợi ích của các bên là phải thực hiện cải cách tiền lương trên bình diện quốc gia và từng doanh nghiệp. Cần thực hiện việc trả lương theo hiệu quả công việc chứ không phải theo ngạch, bậc đơn thuần. Tiền lương phải bảo đảm tái sản xuất sức lao động. Muốn vậy, tiền lương cơ sở của cán bộ công chức phải tương ứng với chỉ số giá sinh hoạt từng thời kỳ và phải tính đến sự phù hợp với từng ngành, nghề cũng như đặc thù của từng khu vực. Đồng thời, phải có sự so sánh với mức lương tối thiểu trong khu vực doanh nghiệp. Cũng cần làm rõ mối quan hệ giữa chính sách tiền lương với các chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, giáo dục và phần tiền nhà ở, điện, nước, phương tiện đi lại, trang bị đồ dùng cho chuyên gia cao cấp và cán bộ lãnh đạo trong cơ cấu tiền lương. Cải cách tiền lương phải gắn liền với cải cách bộ máy nhà nước, tinh gọn biên chế và thực hành tiết kiệm.

Vấn đề quan trọng sau việc tăng lương, đó là phải giám sát việc “té nước theo mưa”-hệ lụy của việc tăng lương này. Thực tế, mỗi lần tăng lương là vô vàn những thứ khác cũng rục rịch tăng theo.

ĐỖ PHÚ THỌ