 |
| Ảnh minh họa/Internet. |
Không phải ngẫu nhiên mà Liên hợp quốc chọn Ngày Dân số thế giới (11-7) năm nay với chủ đề “Mọi người đều được quan tâm”. Ngoài việc muốn gửi đến các quốc gia thông điệp cần có chiến lược xây dựng chính sách phù hợp, quản lý, giải quyết những vấn đề dân số hiện tại và tương lai, dường như tổ chức lớn nhất hành tinh này cũng nhắc nhở một điều thuần Việt: Trời sinh voi, trời không sinh… nhiều cỏ!
Thật vậy! Dân số thế giới sẽ đạt ngưỡng 7 tỷ người vào năm tới. Điều này sẽ tạo ra nhiều áp lực cho mỗi quốc gia trong việc cung ứng đủ nhu cầu về thực phẩm, nhà ở, nước sạch, khám chữa bệnh, học tập… cho tất cả mọi người. Ở Việt Nam, kết quả cuộc tổng điều tra dân số năm 2009 cho thấy, nước ta là quốc gia có quy mô dân số đứng thứ 13 trên thế giới, chất lượng dân số còn hạn chế, chỉ số phát triển con người vẫn ở mức thấp, các tố chất về chiều cao, cân nặng và sức bền luôn ở trong tình trạng “thấp, bé, nhẹ cân” so với nhiều nước trên thế giới. Có người đã từng nói vui: “Thi đấu bóng đá, cầu thủ Tây chạy một bước thì cầu thủ ta phải chạy hai bước, làm sao không mệt!”. Cách nói cận cảnh này ít nhiều phản ánh những thách thức trong chiến lược phát triển con người Việt Nam.
Có một thông tin vui: Nước ta đã chính thức bước vào giai đoạn cơ cấu “dân số vàng”. Những năm qua, do mức sinh giảm nhanh và liên tục nên tỷ lệ trẻ em dưới 15 tuổi đã giảm mạnh (từ 33% năm 1999 xuống còn 25% năm 2009), tỷ lệ người trong độ tuổi lao động tăng nhanh. “Dân số vàng” được xét trên tiêu chí: Cứ hai người trong độ tuổi lao động (từ 15 đến 59 tuổi) thì chỉ có một người trong độ tuổi phụ thuộc (dưới 15 tuổi và từ 60 tuổi trở lên). Nói một cách nôm na, nếu như trước đây một ông bố phải nuôi 2-3 cái “tàu há mồm”, thì nay chỉ còn phải “đèo bòng” có một! Cơ cấu “dân số vàng” thường chỉ xảy ra một lần trong lịch sử của một quốc gia. Tại Việt Nam, giai đoạn này sẽ kéo dài khoảng 30 năm (từ năm 2010 đến năm 2040). Một số nước, vùng lãnh thổ ở khu vực châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Xin-ga-po, Đài Loan (Trung Quốc)… đều tận dụng rất thành công giai đoạn cơ cấu “dân số vàng” để phát triển nhanh kinh tế - xã hội. Điểm nổi bật nhất của giai đoạn này là tỷ trọng dân số trong độ tuổi lao động lớn hơn trong độ tuổi phụ thuộc, đất nước sẽ có một lực lượng lao động dồi dào và có sức khỏe.
Dĩ nhiên, tính hai mặt của giai đoạn “dân số vàng” cũng cần phải tính tới, bởi đi đôi với cơ hội là thách thức. Khi đất nước có nguồn lao động “vàng” dồi dào, có sức khoẻ, trình độ, sẵn sàng “đi bất cứ nơi đâu, làm bất cứ việc gì”, nhưng dân số này cũng đòi hỏi những quyền lợi chính đáng về thu nhập, nơi ăn ở, điều kiện học tập, giao lưu... Với hơn một nửa dân số trong độ tuổi “vàng”, áp lực trong tạo công ăn, việc làm là không nhỏ, đặc biệt là tại các vùng nông thôn. Điều cần nói, Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, từng bước hướng tới nền kinh tế tri thức. Vì vậy, rất cần số lao động chất lượng cao, “quý hồ tinh bất quý hồ đa”. Lực lượng lao động trong giai đoạn “thời cơ vàng” này trước hết cần có trình độ, được đào tạo kỹ lưỡng mới mong làm… nên chuyện! Thế nhưng, thực tế hiện nay, tại hầu hết các vùng, miền đất nước, tỷ lệ lao động được đào tạo rất thấp. Chẳng hạn, ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long - nơi có lực lượng lao động dồi dào - tỷ lệ được đào tạo lại thấp nhất nước (chỉ đạt 7,8%), thấp hơn cả khu vực trung du và miền núi phía Bắc (13,4%).
Các chuyên gia kinh tế cho rằng, để tận dụng giai đoạn “dân số vàng”, ở tầm quản lý vĩ mô, Việt Nam cần hành động khôn ngoan bằng việc ban hành và thực hiện các chính sách phù hợp như: Chính sách giáo dục và đào tạo; chính sách lao động, việc làm và nguồn nhân lực; chính sách y tế và kế hoạch hóa gia đình; chính sách an sinh xã hội toàn diện; chính sách bảo trợ người già và dân số già... Chỉ có nỗ lực thực hiện đồng bộ các chính sách chúng ta mới có thể biến giai đoạn “dân số vàng” thành “cơ hội vàng” phục vụ quá trình phát triển kinh tế đất nước.
Lê Thiết Hùng