Làng Hồ Khẩu thuộc cụm dân cư số 1 và số 2 phường Bưởi (quận Tây Hồ) xưa là phủ Phụng Thiên, nằm kề ngay dưới chân kinh thành Thăng Long. Làng vẫn duy trì được nếp sống văn hóa cơ bản của một làng xưa cả về tâm linh và văn hóa cộng đồng. Ảnh internet.

“Làng văn hóa” là một danh hiệu cao đẹp và rất đáng nâng niu, trân trọng. Vì nói đến làng văn hóa là người ta nghĩ ngay đến một không gian văn hóa mà ở đó người dân có cuộc sống ấm no, ổn định; mọi người chung sống trong tình thân thiện, nhân ái, biết đồng cam cộng khổ và chia sẻ với nhau những lúc khó khăn hoạn nạn; môi trường sinh thái trong sạch, không có tệ nạn xã hội và không có những chuyện phiền hà, lạc hậu trong tổ chức cưới hỏi, tang lễ, hội hè và các hoạt động xã hội khác. Hay nói gọn lại, đó là một môi trường văn hóa mà người tốt chiếm số đông, cái đẹp “đè bẹp” cái xấu, cái hay “đánh bay” cái dở và cuộc sống cộng đồng luôn coi trọng, đề cao các giá trị chân- thiện- mỹ.

Khởi nguồn từ mô hình làng văn hóa thôn Tráng Liệt, xã Đồng Quang, huyện Từ Sơn (Bắc Ninh) vào năm 1989, đến nay phong trào làng văn hóa đã phát triển sâu rộng trên phạm vi cả nước và trở thành một trong những động lực quan trọng nhất để xây dựng và phát triển nền tảng văn hóa ở cơ sở. Theo thống kê của Cục Văn hóa Thông tin cơ sở (Bộ Văn hóa- Thể thao và Du lịch), nước ta đã có 38.443/88.603 làng được công nhận là làng văn hóa, trong đó có 4.533 làng văn hóa tiêu biểu được công nhận ở cả 3 cấp huyện, tỉnh và Trung ương.

Như vậy, hiện có tới 43,4% làng trong cả nước được công nhận là làng văn hóa. Nhưng chỉ có 11,8% làng văn hóa tiêu biểu trong số làng văn hóa đó. Nếu tính bình quân trong 4 làng văn hóa “đại trà” thì mới có 1 làng văn hóa “tinh hoa”. Dù không nói ra, nhưng ai cũng hiểu ngầm rằng, cái chất văn hóa đích thực ở nhiều làng văn hóa vẫn còn khiêm tốn, nếu không muốn nói là rất mỏng manh! Làng văn hóa là một khái niệm định tính, việc tỉ lệ hóa số lượng làng văn hóa như vậy cũng không ngoài mục đích giúp chúng ta nhận diện đầy đủ hơn, thực chất hơn diện mạo phong trào làng văn hóa mà chúng ta dày công xây dựng, bền bỉ vun đắp trong suốt 2 thập kỷ qua. Nhưng đáng buồn thay, ở đâu đó người ta vẫn chỉ chú trọng đến bề nổi, bám rượt thành tích ảo mà thiếu chăm lo đến chiều sâu khiến phong trào xây dựng làng văn hóa hữu danh vô thực.

Danh hiệu ai cũng quý, cũng thích, cũng muốn phấn đấu để đạt tới cho kỳ được. Tất nhiên, muốn đạt được danh hiệu phải thực hiện đầy đủ những tiêu chí, tiêu chuẩn theo quy định và hoàn thành xuất sắc những chỉ tiêu cụ thể đã đề ra. Một danh hiệu chỉ có giá trị khi được cộng đồng, xã hội thừa nhận, có tác dụng giáo dục, thuyết phục và tạo động lực cho cá nhân, tập thể khác học tập, noi theo. Đó là một danh hiệu chân chính, đích thực và có sức sống bền vững. Ngược lại, mọi sự háo danh, chạy theo thành tích, thậm chí bằng mọi giá để đạt được danh hiệu đều gây nên sự phản cảm, vô duyên, nhất là trong lĩnh vực văn hóa (trong đó có danh hiệu làng văn hóa). Hay nói cách khác, nếu danh hiệu làng văn hóa không được xây dựng bằng những nhân cách văn hóa và yếu tố văn hóa thực thụ thì lại là làng... thiếu văn hóa!

Qua 20 năm xây dựng làng văn hóa, chúng ta đã xây dựng được một nền tảng văn hóa khá vững mạnh từ cơ sở. Kết quả đó thật đáng mừng và khích lệ. Tuy nhiên, sau khi nhìn thẳng vào vấn đề, đánh giá đúng thực chất phong trào, chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu, đề xuất và thực thi các giải pháp hữu hiệu để nuôi dưỡng phong trào ngày càng phát triển đồng đều, sâu rộng và mang lại lợi ích thiết thực đối với cuộc sống của nhân dân. Thực tế cho thấy: Huy động được mọi người dân tham gia phong trào làng văn hóa là cần thiết, nhưng điều quan trọng nhất là phải tạo ra cơ chế, chính sách chăm lo để người dân vừa là chủ thể thực hiện, vừa là người được thụ hưởng thành quả từ phong trào đó.

NGUYỄN VĂN HẢI