Quan họ vừa chính thức được UNESCO công nhận là Di sản Văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại. Đây là một niềm vui lớn không chỉ của riêng hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang mà còn là niềm tự hào chung của cả nước. Niềm vui đang dâng tràn, song đây cũng là lúc chúng ta phải nghĩ ngay tới việc làm gì cho những bước đi tiếp để Quan họ luôn xứng với danh hiệu Di sản thế giới.
Đáp ứng tiêu chí của UNESCO
PGS.TS Nguyễn Chí Bền, Viện trưởng Viện Văn hóa nghệ thuật Việt Nam, đơn vị chịu trách nhiệm xây dựng bộ hồ sơ cho biết: “Để trở thành một di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, mỗi di sản văn hóa phi vật thể phải đáp ứng được 5 tiêu chí mà UNESCO đưa ra: Phải là di sản văn hóa phi vật thể; phản ánh sự đa dạng văn hóa toàn thế giới và là minh chứng cho sự sáng tạo của nhân loại; có kế hoạch bảo tồn; cộng đồng có vai trò to lớn trong việc nhận diện, bảo tồn; di sản này đã được kiểm kê theo hướng dẫn của UNESCO trong lãnh thổ của quốc gia đệ trình hồ sơ”. Tất nhiên có thể thấy rõ vai trò nổi bật nhất trong các yếu tố trên không gì khác, chính là yếu tố vai trò của cộng đồng trong việc sáng tạo và lưu giữ di sản như thế nào, và thái độ hiện tại của cộng đồng đó với di sản ra sao.
 |
| Hát Quan họ theo lối mới trong ngày hội Lim, (Bắc Ninh). Ảnh: Hà Dương |
Thật may mắn, Quan họ của Việt Nam đã thể hiện được rõ nét tiêu chí này, từ đó đáp ứng được những tiêu chí còn lại. Bản nhận xét đánh giá về Quan họ của Hội đồng chuyên môn UNESCO trong quá trình xét đề cử, theo bà Lê Thị Minh Lý - Phó Cục trưởng Cục Di sản văn hóa, thì Quan họ được đánh giá rất cao về giá trị văn hoá đặc biệt, về tập quán xã hội, nghệ thuật trình diễn, kỹ thuật hát, phong cách ứng xử văn hóa, bài bản, ngôn từ và cả về trang phục. Các kết luận được ghi trong hồ sơ thể hiện rất cụ thể: “Quan họ luôn được thực hành trong các hoạt động văn hóá, xã hội của cộng đồng, được cộng đồng hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang lưu giữ, trao truyền từ nhiều thế hệ và trở thành bản sắc của địa phương và lan tỏa trở thành không gian văn hóa đặc thù. Việc Quan họ được đăng ký vào danh sách đại diện sẽ góp phần tăng cường vị trí vai trò của di sản đối với xã hội, làm giàu thêm bức tranh đa dạng văn hóa của Việt Nam và của nhân loại. Một số biện pháp bảo vệ được đề xuất với sự cam kết của quốc gia, chính quyền địa phương và cộng đồng cho thấy tính khả thi của các hoạt động bảo vệ di sản. Hồ sơ đã thể hiện rõ sự tham gia một cách tự nguyện của người dân hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang trong việc nhận dạng, kiểm kê giá trị di sản và xác lập các biện pháp bảo vệ”. Chính vì vậy mà mặc dù có tới 35 hồ sơ bị loại nhưng Quan họ vẫn xứng đáng nằm trong tốp 76 bộ hồ sơ được chính thức công nhận là di sản thế giới.
Phát huy Quan họ theo hướng nào?
Đây chẳng phải câu hỏi cho riêng Quan họ, mà đã trở thành mối quan tâm chung cho tất cả các loại hình nghệ thuật truyền thống. Nhưng với Quan họ, thì việc lo lắng về sự sống-còn không phải là điều quan trọng nhất, bởi trên thực tế dù có nhiều năm bị gián đoạn do những lý do khách quan, thì cho đến nay Quan họ vẫn có sức sống mạnh mẽ, bám sâu vào cộng đồng nhân dân khắp vùng Kinh Bắc xưa, hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang nay. Tuy nhiên, điều mà những người yêu văn hóa Kinh Bắc, yêu Quan họ luôn cảm thấy chưa thực sự yên tâm chính là “Lối chơi Quan họ”-một trong những nét độc đáo nhất tạo nên “bản sắc riêng” cho Quan họ đang dần bị mai một.
Cái bản sắc riêng ở Quan họ, là không gọi “Dân ca” mà gọi hẳn “Lối chơi”. Cách gọi này đã có thể cho thấy cả một văn hóa phong phú với những quy định và phép tắc gắn liền với cuộc chơi mà trong đó ca hát chỉ là một thành tố. Người quan họ có câu: “Trong sáu tỉnh người đà chưa tỏ/ Ngoài năm thành chỉ có Bắc Ninh/ Yêu nhau trở lại xuân tình/ Nghề chơi quan họ có tinh mới tường”. Quả thực trong sinh hoạt văn hóa quan họ, người chơi phải tinh tường những phép tắc. Ví dụ như một lần thể hiện Quan họ đầy đủ có 3 chặng: Lề lối, Vặt và Giã bạn. Bên cạnh đó, trong quá trình hình thành và phát triển Quan họ đã hình thành nhiều hình thức ca hát, mỗi hình thức lại có một lề lối riêng. Phổ biến nhất là 4 hình thức hát chúc hát mừng, hát thờ, hát hội và hát canh. Hát chúc hát mừng là khi mùa hội đến, các “bọn” Quan họ ở làng kết chạ tới khi gặp nhau họ cất lên những lời ca chúc nhau. Thường là những bài cổ thuộc chặng Lề lối đường hát ở đây. Hát thờ là hình thức hát ở trong đình hoặc đền nhân dịp lễ hội, đây còn được gọi là “Quan họ ca sự tại đình”; ở hình thức hát này thường chỉ diễn ra giữa các "bọn" của hai làng kết chạ, các “bọn” Quan họ hát đủ cả 5 giọng lề lối. Bên cạnh đó, trong hát thờ Quan họ không hát đôi mà tất cả cùng xướng, nên còn gọi là hình thức "hát bọn". Hát canh thì gần với phần hội, chỉ được tổ chức vào ban đêm, thường trong các “nhà chứa” (nhà ông trùm, bà trùm Quan họ), ở hình thức hát này sự thắng thua lại được phân định chính vì vậy nó mang tính giải trí và còn được gọi là “Quan họ du ca tại gia”. Ở đây hai "bọn" Quan họ sẽ đối đáp với nhau, những câu Lề lối mang tính nguyên tắc thì không thay đổi, sự thắng thua sẽ chủ yếu chỉ diễn ra ở chặng giữa (vặt), những câu hát độc đáo được các "bọn" quan họ đưa ra, và các ông trùm cùng những người có uy tín trong nghề sẽ đánh giá, tính điểm. Tuy nhiên sự thắng thua trong Quan họ không làm ảnh hưởng tới mối quan hệ thâm tình giữa đôi bên Quan họ, mà chỉ như việc cùng nhau học tập trau dồi thêm những giai điệu mới, những lời thơ mới. Hình thức Hát hội cũng rất phổ biến, ở đây có thể hát ở sân đình, ở bãi đất rộng, ở trên hồ, trên sông… Hay một điều kiêng kỵ trong Quan họ đã rất quen thuộc, đó là Quan họ kết chạ thì không được lấy nhau. Vì người Kinh Bắc quan niệm đã kết chạ thì như anh em một nhà.
Đó chỉ là một vài đặc trưng trong sinh hoạt văn hóa Quan họ. Nhìn vào những đặc trưng đó có thể thấy ngay giờ đây hầu như nét sinh hoạt văn hóa truyền thống đã không còn. Cũng dễ hiểu bởi ngay cả những nghệ nhân Quan họ cao niên, khoảng 80 tuổi trở xuống đều không phải là những nghệ nhân hát Quan họ theo như các cụ ngày xưa. Cho nên giữ được “Lối chơi quan họ” đúng nghĩa giờ thật khó. Song, chúng ta phải chấp nhận một thực tế, đó là mở rộng làn sóng Quan họ thông qua sân khấu hóa.
Theo chúng tôi, bảo tồn và phát huy một cách tốt nhất trong thời điểm hiện nay chính là giữ lại yếu tố nghệ thuật và tái hiện lại không gian hát canh Quan họ. Là bởi khi xưa Quan họ vốn chỉ dành riêng cho những người yêu mến và hát được nó, thì giờ đây nó còn là một nhu cầu thưởng thức của người dân khắp mọi miền Tổ quốc, dựa vào làn điệu Quan họ, người hát rất dễ xuyên tạc, bài hát Quan họ bị “thị trường hóa”... Vấn đề làm sao để Quan họ không chỉ bảo tồn, phát huy mà còn phát triển theo đúng quy luật vận động tự nhiên là điều nan giải lúc này.
Bên cạnh sự tồn tại của Quan họ cổ, thì một dòng Quan họ mới đã được hình thành từ cách nay hơn nửa thế kỷ và giờ đã trở nên phổ biến, vượt ra không gian của Kinh Bắc. Đó chính là dòng Quan họ chuyên nghiệp, có nhạc đệm thường được gọi với cái tên Quan họ đoàn, Quan họ đài, Quan họ đám cưới… Theo GS.TS Trần Quang Hải, việc được nhạc đệm và tiết tấu vào góp phần đẩy Quan họ tới gần hơn với âm nhạc châu Âu. Thế có nghĩa là mất đi tính truyền thống. Song điều này ta vẫn phải mặc nhiên chấp nhận, vì văn hóa là một dòng chảy, nó sẽ tồn tại khi trong dân gian còn cần và sẽ tự đào thải khi không phù hợp. Mà trên thực tế nhiều năm qua nó vẫn tồn tại và ngày càng lan rộng.
Và một điều đặc biệt cần lưu ý nữa là không nên tách rời hai cộng đồng quan họ vì sự phân chia địa giới. Nếu như trước kia, hai tỉnh này là một vùng, thời điểm ấy Quan họ gần như được quy về một mối, cộng đồng Quan họ chỉ là một, lại có hẳn một Trung tâm nghiên cứu văn hóa quan họ riêng, hoạt động đã đi vào nền nếp. Nhưng đáng buồn là kể từ khi tách tỉnh, gần như cũng đồng nghĩa với việc cắt bộ phận Quan họ của hai tỉnh mới ra làm hai. Điều này vô hình trung đã làm Quan họ mất đi tính định hướng chung. Một trong những việc nên làm nữa là cần nhân rộng việc truyền bá Quan họ tới mọi tầng lớp nhân dân, đưa Quan họ vào trường học ở địa bàn hai tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang. Bên cạnh đó, khuyến khích các nghệ nhân tham gia sáng tạo thêm những làn điệu mới góp phần cho Quan họ thực sự ngày càng trở nên phong phú và nối tiếp mạch nguồn sáng tạo từ những thế hệ đi trước.
Nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền: Tôi giữ quan điểm bảo tồn nguyên vẹn, nếu để biến dạng thì không gọi là bảo tồn nữa. Cách duy nhất để bảo tồn hiện nay là lập bảo tàng sống cho không gian văn hóa này. Nghĩa là chúng ta có thể khoanh vùng 5, 6 làng kết nghĩa quan họ như ngày xưa, trả lương cho người dân để họ phục hồi và giữ gìn di sản. Việc cấp thiết trước mắt, là làm sao bảo tồn lối hát cổ với hệ thống kỹ thuật thanh nhạc ở cấp độ cao. Đó là một kỹ thuật rất phức tạp và việc bảo lưu nó không dễ dàng, thực tế lớp trẻ ngày nay hầu như không tiếp thu được kỹ thuật này, họ hát theo lối mới. Thêm nữa, việc di sản được thế giới công nhận là rất đáng quý, nhưng danh hiệu sẽ chỉ là danh hiệu, sẽ không mấy có ý nghĩa khi chính cộng đồng sở hữu di sản đó không nhận thức được đầy đủ về giá trị đích thực của di sản, để trân trọng và bảo tồn đúng hướng.
Anh hai Quan họ Hữu Duy (Hoàn Sơn, Tiên Du, Bắc Ninh): Quan họ trở thành Di sản thế giới, là thông tin mà chúng tôi mong đợi từ nhiều năm nay. Khi các báo chí đưa tin Quan họ được vinh danh, cả ngày 1-10 tôi chỉ dành để báo tin vui cho bạn bè và cả các bạn trẻ ở CLB sinh viên Kinh Bắc thuộc Trường Đại học Bách khoa, nơi tôi đang dạy Quan họ. Ai cũng mừng vui khôn xiết. Tuy nhiên cũng phải lo âu, vì Quan họ bây giờ bị bóp méo nhiều, do nhiều người coi nó như là phương tiện kiếm tiền. Mong có sự quản lý chặt chẽ hơn và đầu tư cho các làng cổ có sân chơi cũng như nhân rộng các làng mới vì dân ca là từ dân mà ra.
VƯƠNG HÀ-QUANG LONG