Ảnh Internet

Vấn đề này đã được các nhà giáo dục và các nhà nghiên cứu đưa ra thảo luận để tìm giải pháp khắc phục tại hội thảo "Giáo dục phổ thông cho trẻ em dân tộc thiểu số". Hội thảo do Trung tâm nghiên cứu giáo dục dân tộc (Bộ Giáo dục và Đào tạo) và Tổ chức cứu trợ trẻ em Anh phối hợp tổ chức tại Hà Nội.

Theo kết quả nghiên cứu do Tổ chức cứu trợ trẻ em Anh tại Việt Nam thực hiện tại một số xã thuộc tỉnh Đắc Nông, Kon Tum và Điện Biên trong thời gian qua thì tỷ lệ học sinh nữ ở các vùng dân tộc bỏ học khá nhiều, nhất là giai đoạn chuyển cấp từ tiểu học lên trung học cơ sở. Ở trường Đắc Som (huyện Đắc Giong, tỉnh Đắc Nông) tỷ lệ học sinh nữ ở lớp 1 là khoảng 60%, nhưng đến lớp 6 giảm xuống dưới 45% và lên lớp 9 thì chỉ chiếm khoảng 29% tổng số học sinh trong lớp. Còn ở xã Sá Tống (Mường Chà, Điện Biên) thì số học sinh nữ nhập học lớp 1 chiếm khoảng 40%, đến lớp 8 thì số học sinh nữ chỉ còn lại 25% tổng số học sinh trong lớp và đến lớp 9 thì không còn học sinh nữ nào trong lớp. Điều đó cho thấy càng lên lớp cao, tỷ lệ học sinh nữ ở các vùng dân tộc càng giảm xuống. Theo thống kê của nhóm nghiên cứu này, ở các trường THCS ở một số xã như: Đắc Som, Đắc Plao (Đắc Nông), Huổi Lèng, Sá Tống (Điện Biên) và Hơ Moong, Y Axier (Kon Tum) thì tỷ lệ học sinh bỏ học ở lớp 6 trong năm học 2005-2006 dao động ở mức từ 2% đến 7%.

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng này. Tuy nhiên, nguyên nhân chính khiến nhiều em không tiếp tục học cao hơn là do kết quả học tập kém dẫn đến các em không thích đi học nữa. Theo ý kiến của đa số các em bỏ học, các em đã gặp khó khăn trong học tập, không hiểu bài nên không muốn học tiếp. Trong đó, lý do trực tiếp dẫn đến kết quả học tập kém là nhiều học sinh dân tộc thiểu số chưa sử dụng thành thạo tiếng Việt. Có trường, tỷ lệ học sinh học chưa thạo tiếng Việt chiếm tới 30%. Có em đọc được nhưng không chép được bài, cô và trò bất đồng ngôn ngữ nên nhiều em không hiểu cô giáo đang giảng vấn đề gì. Theo một số em thì môn Toán và môn Tiếng Anh học khó hiểu cũng là một trong những nguyên nhân khiến các em bỏ học. Ngoài ra còn nhiều lý do khác như: các em không có thời gian để làm bài tập về nhà vì phải làm nhiều việc khác và cũng không có ai giúp các em hiểu thêm bài học ở nhà. Bên cạnh đó, việc đến trường của các em cũng không thường xuyên, liên tục mà nhiều học sinh phải nghỉ học vào các vụ mùa thu hoạch (thu hoạch cà phê ở Kon Tum, vụ làm nương của đồng bào Mông ở Điện Biên), dịp lễ tết, dịp du xuân, hay phong tục tập quán riêng của các đồng bào dân tộc khác. Không đi học đầy đủ thì tất yếu các em sẽ không tiếp thu bài giảng theo kịp tiến độ chung của cả lớp... Về phía giáo viên, theo các nhà nghiên cứu thì phương pháp giảng dạy chưa hiệu quả và giáo viên thiếu kinh nghiệm trong giảng dạy học sinh dân tộc thiểu số, nhiều giáo viên không biết tiếng dân tộc… Một số ý kiến khác thì cho rằng, chương trình giáo dục và cách quản lý chương trình học của Bộ Giáo dục và Đào tạo không phù hợp với các đối tượng học sinh theo các vùng, miền khác nhau. Ngoài ra, do điều kiện kinh tế ở các vùng này còn khó khăn nên nhiều gia đình không hỗ trợ trẻ tiếp tục đến trường.

Để khắc phục tình trạng nói trên, nhiều đại biểu cho rằng, cùng với việc tăng cường bồi dưỡng kiến thức, kinh nghiệm và đổi mới phương pháp giảng dạy của giáo viên thì cần đổi mới chương trình học phù hợp hơn với các đối tượng học sinh. Cần phải lấy học sinh làm trung tâm của hoạt động giáo dục ở phổ thông. Với học sinh, cần phát hiện và hỗ trợ nâng cao trình độ tiếng Việt, tăng khả năng giao tiếp bằng tiếng Việt cho học sinh. Giáo dục song ngữ để giúp các em học tốt hai thứ tiếng: vừa bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và học tốt tiếng Việt. Đồng thời cũng cần mở rộng và phát triển giáo dục mầm non tới tận thôn bản để giúp các em làm quen sớm hơn với môi trường học tập, ưu tiên đào tạo đội ngũ giáo viên mầm non là người địa phương hoặc sinh sống tại địa phương.

HÀ THANH MINH