Một xưởng chế biến sợi đay (ảnh Vnn)

Nghề làm dây đay ở làng Ô Cách (phường Đức Giang, quận Long Biên, Hà Nội) có từ gần trăm năm nay. Ngoài việc quảng bá thân thuộc với người dân trong nước, dây đay Ô Cách đã từng khẳng định thương hiệu ở Đông Âu và nhiều quốc gia trên thế giới.

Dân Ô Cách yêu nghề mà không giấu nghề. Đất làng Ô Cách lại không được rộng rãi lắm nên đã có những người mang tình tơ đay đi làm ăn ở nơi khác. Thành ra, nói không ngoa, dân Ô Cách đến đâu, nghề làm đay đến đó. Vợ chồng ông Nguyễn Ngọc Tùng - bà Nguyễn Thị Thơ là người ở trong vòng lưu chuyển ấy. Ông bà cùng tuổi nhau. Đầu năm 1957, vừa tròn 20 tuổi, ông Tùng xuống Hải Phòng mở cửa hàng bán dây đay ở số 123, Tôn Đản và năm sau thì cưới bà. Cái duyên của người bán cùng với nhu cầu của người mua đã làm cho cửa hàng của ông bà ngày càng phát đạt. Sau cải tạo thành phần kinh tế, ông bà đưa tài sản và tay nghề của mình vào tập thể - hợp tác xã Trường Giang (ở phố An Dương). Giặc Mỹ bắn phá miền Bắc, hành trình sơ tán đã hẹn điểm dừng chân của gia đình ông là huyện Đan Phượng (Hà Tây). Tại đây, ông bà vào hợp tác xã Hợp Tiến, gia công hàng đay cho Công ty Nông, Hải sản - Vật liệu kiến thiết Hà Nội.

Ngày ra đi, một thân một mình. Cuối thập kỷ 80 của thế kỷ trước, ông Tùng trở lại Ô Cách với một gia đình gồm hai vợ chồng và 10 người con (5 trai, 5 gái). Những tưởng về quê lần này để được cùng bà con quê hương phát triển nghề dây đay. Ai ngờ năm 1991, Liên bang Xô-viết cùng các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu tan rã. Chế độ bao tiêu kế hoạch sản phẩm dây đay Ô Cách sang các nước này trước đây nay cũng kết thúc. Khung, bàn xe đay trở nên vô duyên, bị xếp xó. Người dân Ô Cách thương đay mà phải đi tìm việc khác kiếm sống. Sự năng động của Ban quản lý hợp tác xã và những người dân tháo vát, tài hoa đã làm cho ngành nghề dịch vụ dần dà bung toả. Rôm rả nhất là dịch vụ ăn uống, ẩm thực bình dân, cà phê giải khát, karaoke, thu nhặt phế thải để bán…

Ông bà Tùng đông con. Lũ trẻ đang tuổi ăn, tuổi học, không thể tuỳ tiện mở các dịch vụ được. Vậy thì làm thế nào để mỗi ngày ba lần bếp đỏ lửa, để nuôi con ăn học bây giờ! Cái khó ló cái khôn. Ông Tùng bàn với vợ: khách hàng đại trà của dây đay không còn nữa thì đại quân làm dây đay bỏ nghề là đúng thôi. Nhưng nếu không ai làm nữa thì lấy đâu ra dây đay để cung cấp cho xã hội dây buộc hàng, đóng kiện; dây kéo ba-lăng, tời, trục; dây kéo co; rồi thì Công ty Ngọc Khánh (ở đường Nguyễn Sơn, Long Biên, Hà Nội) mỗi tháng cần đến 200kg dây đay loại 1,5 ly để bó dây điện… toàn những thứ mà các loại dây khác không thể thay thế được. Mặt khác, trong nghề làm dây đay, thì tay nghề là yếu tổ chủ yếu tạo ra giá trị phẩm, chứ thiết bị sản xuất chỉ chiếm một phần giá trị nhỏ vì nó thô sơ, đơn giản, dễ chế tạo, vốn đầu tư không đáng kể so với nhiều dịch vụ sản xuất khác. Thế là ông quyết… Cả nhà ông Tùng, trừ những người con đã về nhà chồng, còn lại tiếp tục làm đay chung và ăn chung một nồi. Ông bà tuyển thêm 3 thợ nữa. Mỗi năm, ông lên Thuận Thành (Bắc Ninh), nơi có đay tốt, mua 12 tấn đay nguyên liệu khô về nhập kho. Rồi như tằm kéo kén, nhả tơ vàng, mỗi tháng cơ sở của ông sản xuất, cung cấp một tấn dây đay ra thị trường. Ngoài tiêu thụ thường xuyên ở cửa hàng 76 Hàng Điếu (Hà Nội), 3 xe Huyndai của gia đình ông còn chở sản phẩm đi giao tận nơi cho khách ở số 4 Hàng Cháo (một đơn vị bảo đảm vật tư ngành thể thao) và một số nơi khác theo hợp đồng… Dây đay Ô Cách nhờ bàn tay của gia đình ông mà vẫn đang tồn tại hữu ích trong đời sống xã hội.

Làm dây đay phải chịu nắng nôi, vất vả. Muốn dây đay bền, đẹp thì mọi cái đều phải tốt ngay từ đầu, từ khâu mua nguyên liệu đến từng nút bện, đường xe. Người làm dây đay phải lành nghề. Chậm, vụng trong thao tác là tơ đay sẽ rối thành "tơ vò", khó gỡ, hết cơm ăn. Người ngại khó, ngại khổ thì chẳng theo và giữ nghề này làm gì nữa khi các nghề kiếm tiền dễ hơn đang ngày càng nhiều. Riêng ông bà Tùng thì mỗi năm thu lãi hàng trăm triệu đồng từ việc sản xuất dây đay. Tuy làm chung, ăn chung nhưng con cái ông-ai đã lập gia đình-cũng đều có nhà cửa khang trang. Các cháu được chăm lo dưỡng dục chu đáo. Nhìn hai ông bà đã ở tuổi “cổ lai hy” mà rất tráng lão với phong cách tự tại, dễ trọng, dễ gần của người tri nghề, tri kỷ, tôi càng thấy xúc động khi được nghe ông nói một câu như chính tiếng đời của ông: "Nhiều đêm thức giấc, tôi vẫn thường vắt tay lên trán ngẫm nghĩ: liệu khi mình khuất đi thì có còn ai làm dây đay nữa không? Chẳng lẽ cái nghề đã nuôi sống bao người, đã từng góp phần mang lại phồn vinh cho đất nước, trong đó có gia đình mình, với bao kỷ niệm của những ngày nhọc nhằn, gian khó nhưng rất đỗi tự hào rồi đây sẽ đi vào dĩ vãng?".

Chia tay tôi, ông thân mật đọc câu ca dao như một lời nhắn gửi: "Thương nhau từ thuở vắn thừng/ Trăm chắp, ngàn mối xin đừng quên nhau".

PHẠM XƯỞNG