Sáng 13 tháng 5 năm 1955, mẹ tôi khăn áo chỉnh tề dắt tay tôi lên phố Cầu Đất, để đón chào bộ đội về tiếp quản Hải Phòng, hai bên hè phố đông chật người vẫy cờ, hoa chào đoàn quân chiến thắng.

Đoàn quân đi xa, dòng người đã vợi, mẹ vẫn dắt tay tôi đứng đó, gần ngã tư trại lính (nay là ngã tư Thành đội). Mẹ bảo mẹ thấy anh tôi trong đoàn quân ấy, rồi hai hàng nước mắt lăn dài trên gò má nhăn nheo của mẹ. "Thế sao mẹ không gọi, và anh con có nhìn thấy mẹ không"? Tôi hỏi. Mẹ lặng lẽ ôm chặt tôi vào lòng lấy khăn lau những giọt nước mắt, nức nở dẫn tôi về.

Mẹ sinh nở nhiều lần, nhưng vì hoàn cảnh kinh tế, vì bệnh tật và nạn đói năm 1945, mẹ chỉ còn hai anh em tôi. Anh hơn tôi 10 tuổi, học giỏi. Một hôm mẹ đi chợ như thường lệ, kẻ trộm vào bê nồi cơm chạy. Hàng xóm trông thấy gọi, anh tôi vùng đuổi theo, chỉ dấn thêm vài bước, đến ngãba đầu phố Hàng Bè (Hoàng Thiết Tâm bây giờ) tóm được tên trộm, anh tôi giằng lấy cái nồi đồng cũ kỹ và khẽ khàng bảo: "Lấy hết cơm đi, còn trả lại nồi cho tôi". Tên trộm khẳng khiu, khều khào vét vội vàng số cơm trong nồi, không nói nổi lời cảm ơn, loạng choạng bước.

Bữa đó hai anh em tôi nhịn, tôi bị đói ngồi khóc, trách anh sao không đòi cơm về lại cho kẻ trộm. Anh nhẹ nhàng bảo: "Chiều mẹ về anh em mình lại có cái ăn. Còn người ta, em thấy đấy, yếu lắm rồi, có đi được đâu, hôm nay được ít cơm, mai không biết có gì mà ăn"... Nói xong mắt anh ầng ậng nước.

Sau lần ấy anh tình nguyện vào Vệ quốc đoàn, cùng đơn vị với các anh Trần Thành Ngọ, Lê Quốc Uy. Đơn vị anh đóng ở núi Phù Liễn, tỉnh Kiến An (cũ) và ngày 25-4-1947 trong trận chiến đấu bảo vệ Kiến An, mặc dầu chênh lệch về hỏa lực và quân số, nhưng đơn vị anh đã anh dũng đánh trả, gây cho địch nhiều thiệt hại.

Cuối cùng để bảo toàn lực lượng đơn vị được lệnh rút. Anh và mấy đồng đội sau khi tiêu hủy toàn bộ số tài liệu quan trọng thì cũng là lúc quân Pháp tràn vào cửa hầm. Biết không thể thoát và không muốn rơi vào tay quân giặc, các anh đã rút chốt lựu đạn anh dũng hy sinh. Những tên giặc tràn vào hầm chẳng sống được mống nào.

Mãi đến 20-9-1955 mẹ tôi mới nhận được giấy báo tử của Ban chỉ huy tỉnh đội Kiến An báo cho biết anh Nguyễn Ngọc Bích đã hy sinh hồi 17 giờ ngày 25-4-1947 (tử thi mất tích).

Chao ơi! Chiến đấu hy sinh anh dũng trên đất của quê hương cùng nhiều đồng đội của mình mà: Tử... Thi... Mất...Tích. Con hy sinh mẹ buồn vô hạn. Tử thi mất tích lại làm mẹ đau thêm. Ngày ngày mẹ đau đáu nhìn lên ngọn núi Phù Liễn, như tìm hình bóng, hương hồn và di cốt của anh. Sáu mươi năm qua, cứ mỗi lần nhìn lên bảng Tổ quốc ghi công liệt sĩ Nguyễn Ngọc Bích, là hình ảnh anh lại hiện về như động viên, nhắc nhở tôi suốt cuộc đời: Học tập, rèn luyện và trưởng thành.

Cho đến bây giờ di hài của anh vẫn chưa tìm thấy, điều mà mẹ tâm niệm vẫn chưa được thực hiện. Vẫn biết rằng không phải chỉ riêng di hài của anh mà còn biết bao nhiêu đồng đội của anh trong hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc cũng chưa tìm được nhưng sao tôi vẫn thấy như mình có lỗi.

Tôi viết những dòng này để tưởng niệm anh-Niềm tự hào của tôi, của gia đình tôi, với niềm hy vọng rằng biết đâu có người đồng đội nào của anh hồi ấy biết được chỗ đặt di hài của anh mà báo cho biết thì thật là may mắn cho gia đình và thỏa vong linh của mẹ tôi.

Nguyễn Ngọc Bảo