QĐND - Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại một di sản cao quý là tấm gương sáng ngời phẩm chất đạo đức cao đẹp, suốt đời hy sinh phấn đấu cho đất nước được độc lập, phồn vinh, cho nhân dân được ấm no, tự do, hạnh phúc.
1. Sinh ra khi đất nước và nhân dân ta bị áp bức và bóc lột tàn nhẫn. Câu hỏi: “Làm thế nào để cứu nước” đã sớm được đặt ra trong trí óc người thiếu niên yêu nước. Năm 21 tuổi, Nguyễn Tất Thành mới có điều kiện để thực hiện ước vọng đi sang phương Tây tìm con đường giải phóng dân tộc và Người đã dốc hết tâm, lực vào học tập nghiên cứu lý luận và thực tiễn để tìm lời giải cho một câu hỏi lớn: Làm thế nào để giành lại độc lập cho đất nước, giải phóng nhân dân khỏi vòng nô lệ?
Vượt qua muôn trùng khó khăn, thử thách, Người đã hiến dâng trọn đời mình cho dân tộc và cách mạng. Cho đến lúc phải từ biệt thế giới này, điều luyến tiếc duy nhất của Người là: “…chỉ tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”. Tâm nguyện và mục đích của Người chỉ có một: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi Tổ quốc và hạnh phúc của quốc dân”. Và: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”.
Chính ham muốn và mục đích duy nhất, hết sức cao đẹp đó đã tạo cho Người một ý chí mãnh liệt, nghị lực kiên cường để: “Giàu sang không thể quyến rũ, nghèo khó không thể chuyển lay, uy vũ không thể khuất phục”. Ý chí đó giúp Người vượt qua mọi khổ ải, khó khăn, dẫn dắt nhân dân ta đến bến bờ hạnh phúc, vinh quang.
 |
|
Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Bệnh xá Vân Đình, Hà Tây (tháng 4-1963). Người căn dặn: “Lương y như từ mẫu”. Ảnh tư liệu
|
2. Trong suy nghĩ của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vận mệnh đất nước và vận mệnh nhân dân gắn bó chặt chẽ với nhau: Dân ta phải giữ nước ta/ Dân là con nước, nước là mẹ chung.
Sau Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945 thành công, Người đã sớm giáo dục cán bộ thấm nhuần ý thức vì dân: “Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh vác việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật.
Việc gì lợi cho dân ta phải hết sức làm.
Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh
Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta”.
Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ về chấm dứt chiến sự, lập lại hòa bình ở Đông Dương (20-7-1954), Chủ tịch Hồ Chí Minh trăn trở và dành tâm trí cùng Trung ương Đảng tìm con đường từng bước đi lên chủ nghĩa xã hội từ một đất nước còn nghèo và nhiều năm có chiến tranh khốc liệt.
Tin tưởng vào sức mạnh vô địch của nhân dân, Người nói: “Dễ mười lần không dân cũng chịu. Khó trăm lần dân liệu cũng xong”. Người nhắc nhở, từ người lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước, đến mỗi cán bộ, đảng viên, đều phải nêu cao tinh thần phục vụ, tinh thần trách nhiệm trước nhân dân, phải chăm lo đến đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, vì: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”. Người yêu cầu, để làm tốt trách nhiệm “là người đầy tớ thật sự trung thành của nhân dân”, thì cán bộ phải gần dân, hiểu nguyện vọng của dân, để kịp thời giúp đỡ và “giải quyết các mắc mớ ở nơi dân”. Người đả phá quyết liệt những tư tưởng quan liêu, xa dân, lên mặt “quan cách mạng”, cơ hội, cậy quyền thế, đè đầu, cỡi cổ nhân dân.
3. Hồ Chí Minh đã để lại một tấm gương mẫu mực về tinh thần phục vụ nhân dân vô điều kiện. Những khi nhân dân gặp khó khăn như đói kém, thiên tai…, Người đã kịp thời đưa ra các chủ trương, phong trào để khắc phục, như vận động nhân dân chống nạn đói, nạn thất học… Lời nói luôn đi đôi với việc làm, Người luôn thực hành trước, như 10 ngày nhịn ăn một bữa, tham gia xóa mù chữ, ra mặt trận với các chiến sĩ, phát động và tham gia Tết trồng cây...
Trên cương vị đứng đầu Nhà nước, dù bận trăm công nghìn việc, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn dành thời gian để thường xuyên đi cơ sở, tìm hiểu, “lắng tai nghe ý kiến của đảng viên, của nhân dân, của những người không quan trọng”. Những chuyến công tác về địa phương trực tiếp làm việc với nhân dân, (hoặc tiếp dân tại Phủ Chủ tịch), đã giúp Người nắm sát công việc, hiểu đúng tình hình, từ đó đưa ra những quyết định chỉ đạo đúng đắn, phù hợp với thực tiễn. Các cuộc gặp gỡ giữa Người với các tầng lớp đồng bào cũng là dịp để đồng bào trao đổi, bày tỏ tâm tư nguyện vọng với người đứng đầu Nhà nước. Đó chính là nguồn động viên to lớn đối với nhân dân, là cơ sở thắt chặt hơn niềm tin giữa Đảng với dân.
Hồ Chí Minh không bao giờ coi mình đứng cao hơn nhân dân, mà chỉ tâm niệm suốt đời là người phục vụ trung thành, tận tụy của nhân dân. Người nhiều lần viết thư thăm hỏi, tặng quà cho các cụ già nhân dịp mừng thọ; viết thư gửi các cháu thiếu niên, nhi đồng nhân dịp Tết Trung thu, vào năm học mới...
4. Trong con người Hồ Chí Minh có đầy đủ phẩm chất hội tụ của một lãnh tụ thiên tài, đồng thời Người còn là hiện thân của một lãnh tụ kiểu mới của nhân dân: Vĩ đại mà không cao xa; thanh cao mà lại vô cùng giản dị, gần gũi, thân thiết, tin tưởng và gắn bó với quần chúng, hết lòng, hết sức chăm lo cho nhân dân. Người thường xuyên giáo dục cán bộ phải nêu cao tinh thần phục vụ, tinh thần trách nhiệm trước nhân dân, và chính bản thân Người là tấm gương tiêu biểu.
Nhân dân ta, từ các vị nhân sĩ trí thức đến bà con lao động, nhìn vào tấm gương của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thấy tỏa ra ánh sáng của một tâm hồn lớn, một nhân cách lớn. Ở Người, chúng ta thấy sự gần gũi, ấm áp tình thương và sự bao dung; nếp sống giản dị và đức tính khiêm tốn. Trong cuộc đời, Người coi khinh sự xa hoa, không ưa những nghi thức trang trọng. Từ lúc làm thợ ảnh ở ngõ Công-poăng (Pa-ri, Pháp), đến khi là Chủ tịch nước ở thủ đô Hà Nội, Người luôn sống một cuộc đời thanh bạch, tao nhã. Ngôi nhà sàn đơn sơ, chỉ có hai phòng nhỏ là nơi Người vừa ở, vừa làm việc. Phương tiện sinh hoạt của một vị Chủ tịch nước chỉ là một chiếc giường đơn, một tủ quần áo, một chiếc ra-đi-ô, một đôi dép cao su, mấy bộ quần áo đơn sơ… Sự giản dị đó thật vĩ đại, vì Người đã hy sinh tất cả cho Tổ quốc, cho đồng bào.
Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, một học trò xuất sắc và là một cộng sự thân thiết, gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “…Đó là cuộc đời oanh liệt, đầy gian khổ hy sinh, vô cùng cao thượng và phong phú, vô cùng trong sáng và đẹp đẽ”.
Tư tưởng và tấm gương suốt đời hy sinh chiến đấu, tận tụy phục vụ, vì nước, vì dân của Bác Hồ càng thúc giục chúng ta học tập noi theo Người trong Cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, do Đảng ta phát động, đã và đang đi vào chiều sâu.
PGS, TS TRẦN MINH TRƯỞNG, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh