Nhìn lại lịch sử
Tháng 8-1995. Trong cái buổi sáng mưa rơi nhẹ ấy, ngoại trưởng Mỹ lúc đó là Oa-ren Crít-xtốp-phơ (Warren Christopher) nhẹ nhàng tháo miếng vải che tấm biển đá trong sân ngôi nhà số 7 phố Láng Hạ, chính thức khai trương Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Hà Nội. Trước đó một tháng, ngày 11-7-1995, Tổng thống Hoa Kỳ Bin Clin-tơn (Bill Clinton) tuyên bố bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Nhưng trước khi có được cái giây phút vị ngoại trưởng thứ 63 của Hoa Kỳ làm một cử chỉ tượng trưng mang tính lịch sử ấy, quan hệ bang giao Việt Nam-Hoa Kỳ đã phải đi qua những chặng đường dài…
Ngày 19-6-1919, người thanh niên trẻ tuổi Nguyễn Ái Quốc đã gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam cho Tổng thống Mỹ khi ấy là Út-đrâu Uyn-xơn (Woodrow Wilson). Tuy không được phúc đáp nhưng ngay từ những ngày đầu tìm đường cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhìn thấy ở nước Mỹ những giá trị có ích cho công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc khỏi ách áp bức ngoại bang.
 |
| Quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ cùng hướng đến tương lai. Ảnh: VOA. |
Hơn hai thập kỷ sau, tháng 10-1944, vẫn Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ thị cho các cán bộ Việt Minh tỉnh Cao Bằng tìm cứu viên phi công lái máy bay khu trục Mỹ Uy-li-am So (William Shaw) bị quân phát xít Nhật bắn hạ và truy lùng gắt gao, bí mật đưa sang Vân Nam,Trung Quốc để trao trả cho phái bộ Đồng minh.
Tiếp đó là một chương đặc biệt trong lịch sử bang giao Việt-Mỹ, khi phía Mỹ đã cử một số toán đặc nhiệm sang huấn luyện quân sự, cung cấp vũ khí, điện đài cho những người Việt Minh, là đồng minh trên một trận tuyến chung chống phát xít Nhật ngay trong những ngày trước Cách mạng Tháng Tám.
Và rồi, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lấy ngay những lời bất hủ trong Bản Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ năm 1776: “Tất cả mọi người sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” để mở đầu cho bản Tuyên ngôn độc lập đọc trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày 2-9-1945, khai sinh ra nước Việt Nam mới.
Giữa những ngày tháng là đồng minh chống phát xít ấy với sự kiện khai trương sứ quán Mỹ tại Hà Nội là khoảng thời gian tròn nửa thế kỷ, trong đó có cuộc chiến 30 năm và thêm 20 năm dò dẫm để tìm đến ba chữ: “Bình thường hóa”. Dẫu gặp không ít khó khăn nhưng một khi có thiện chí và mong muốn hòa giải, hai bên Việt-Mỹ đã biết cách vượt qua những trở ngại để tiến về phía trước. Sự kiện một phi công Mỹ, ông Đu-glát Pi-tơ-xơn (Douglas "Pete" Peterson), từng bị bắn hạ và bắt làm tù binh trong chiến tranh, trở thành vị đại sứ Hoa Kỳ đầu tiên ở Việt Nam sau chiến tranh, chính là một biểu tượng thú vị về việc hai bên đã biết cách vượt qua những ám ảnh quá khứ để xây dựng và củng cố mối bang giao Việt-Mỹ.
Nhìn lại lịch sử, chính là cách để có thể hình dung ra tương lai như thế nào, trên cơ sở những gì mà cả hai phía Việt Nam và Hoa Kỳ cùng hành động trong thời điểm hiện tại. Chuyến thăm chính thức Hoa Kỳ của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang là một trong những bước đi quan trọng trong hiện tại để hướng tới tương lai.
Không bỏ lỡ cơ hội
Vượt qua những dặm dài dằng dặc trên không trung, chiếc chuyên cơ chở Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cùng đoàn đại biểu Việt Nam có một chặng nghỉ ngắn ở vùng đất A-lát-xka giá lạnh trên lãnh thổ gần vùng Bắc cực của Hoa Kỳ, bay ngang toàn bộ nước Mỹ từ bờ Tây sang bờ Đông trước khi hạ cánh xuống sân bay quân sự Andrew ở Thủ đô. Oa-sinh-tơn D.C đón đoàn đại biểu Việt Nam trong thời tiết mùa hè dễ chịu, ấm áp. Cả thành phố như nằm trong những cánh rừng nối tiếp nhau; ở nhiều khu vực, trên đường thi thoảng có những tấm biển báo hạn chế tốc độ đề phòng gây tai nạn cho hươu nai chạy ngang! Trên những đại lộ lớn như Pen-xin-va-ni-a, Con-nếch-ti-cớt, dòng xe hơi chạy chậm rãi. Dòng Potomac bình lặng trôi trong nắng hè…
Nhưng hoạt động của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cùng với đoàn đại biểu Việt Nam thì không diễn ra chậm rãi như thế. Hàng loạt các cuộc tiếp xúc, gặp gỡ, diễn đàn được tổ chức nhằm mục tiêu tăng cường sự hợp tác giữa hai nước trên tất cả các cấp độ.
Trọng tâm chính là hợp tác kinh tế, thương mại, tuy đã tăng vượt bậc nhưng rõ ràng vẫn chưa tương xứng với tiềm năng của hai nước. Những chuyển dịch sâu sắc, chưa từng có trên toàn cầu trong hơn một thập kỷ qua khẳng định, trong Thế kỷ 21, khu vực Châu Á - Thái Bình Dương tiếp tục là khu vực phát triển năng động nhất và đóng vai trò đầu tàu trong liên kết kinh tế thế giới. Đây là khu vực tập trung 10 trong số 20 nền kinh tế lớn nhất, với tỷ trọng thương mại xuyên Thái Bình Dương hiện đã chiếm 2/3 thương mại toàn cầu, đóng góp gần 40% tăng trưởng toàn cầu. Điều đó mở ra những vận hội lớn cho cả Việt Nam và Hoa Kỳ.
Mà một trong những chìa khóa mở cánh cửa bước vào sự phồn thịnh chính là Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). Ở các cuộc gặp cấp Bộ trưởng cũng như cấp cao nhất, cả hai bên đều tái khẳng định quyết tâm và cam kết cùng các nước thành viên kết thúc đàm phán TPP theo lộ trình đã đề ra trước cuối năm nay, hướng tới một hiệp định cân bằng vì phát triển. Với việc hướng tới tham gia vào liên kết kinh tế quan trọng hàng đầu này, Việt Nam tiến một bước lớn trên con đường hội nhập quốc tế toàn diện, đồng thời đóng góp vào sự năng động, phồn vinh của khu vực.
Để có thể biến những tiềm năng thành hiện thực, còn phụ thuộc vào môi trường hòa bình, an ninh khu vực. Bảo đảm một môi trường hòa bình, ổn định, ngăn chặn và kiểm soát các xung đột là trách nhiệm chung của các nước trong và ngoài khu vực.
Cũng có cả những cuộc gặp để hiểu nhau hơn sau những cách trở trong quá khứ, xóa đi các vết hằn trong đời sống xã hội, trong tâm tưởng mỗi con người. Như trong cuộc gặp giữa cựu chiến binh hai nước, sau khi nghe ý kiến của các cựu chiến binh Việt Nam, một cựu chiến binh Hoa Kỳ đã thốt lên đầy vẻ tiếc nuối: “Đến bây giờ chúng tôi mới thấy từ trước đến giờ chúng tôi chỉ biết đòi hỏi chuyện tìm người mất tích về phía Hoa Kỳ; trong khi đó, phía Việt Nam cũng còn vô vàn những người mất tích trong chiến tranh chưa tìm thấy; các bạn cũng cần thông tin tìm kiếm như chúng tôi vậy!”
Và đỉnh điểm của các hoạt động trong chuyến thăm là cuộc Hội đàm của hai nhà lãnh đạo hai nước tại Nhà Trắng sáng 25-7 theo giờ Oa-sinh-tơn. Sau đó, trong phòng Bầu dục ở cánh Tây của Nhà trắng, trước một rừng ống kính máy ảnh, máy quay của các phóng viên Việt Nam và quốc tế, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Tổng thống B. Ô-ba-ma (B.Obama) thông báo hai nước đã xác lập quan hệ Đối tác toàn diện Việt Nam-Hoa Kỳ dựa trên các nguyên tắc tôn trọng Hiến chương Liên hợp quốc, luật pháp quốc tế, tôn trọng thể chế chính trị, độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau.
Một cơ hội đã được nắm lấy để hướng tới tương lai!
Một món quà đặc biệt
Khi bay tới Oa-sinh-tơn D.C, đồng hồ của mỗi người lùi lại 13 giờ đồng hồ, cứ như thể được quay ngược trở lại để nhìn vào quá khứ. Rời khỏi nước Mỹ, kim đồng hồ lại quay về hiện tại, với những ước vọng cho tương lai. Mối quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ cũng có những nét tương đồng khi mà nhìn về quá khứ, có thể hình dung ra những sợi dây gắn kết với hiện tại và hình dung ra một tương lai.
Tháng 2-1946, không lâu sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho Tổng thống Hoa Kỳ Ha-ry Tru-man (Harry Truman), bày tỏ mong muốn hai dân tộc cùng dựng xây mối quan hệ “hợp tác đầy đủ”. Bức thư này hiện vẫn nằm trong Cục lưu trữ quốc gia Hoa Kỳ.
Không phải nghi ngờ gì nữa về ý nguyện của nhà cách mạng vĩ đại Hồ Chí Minh, mong muốn có một mối quan hệ hợp tác hữu nghị với nhân dân Hoa Kỳ. Có thể, trong quá khứ đã có những cơ hội bị bỏ lỡ, nhưng ở thời điểm hiện tại, cả hai phía Việt Nam và Hoa Kỳ đều biết rõ phải nắm bắt lấy cơ hội để thực hiện ý nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh, xây dựng quan hệ “hợp tác đầy đủ” giữa Việt Nam và Hoa Kỳ.
Theo thông lệ khi có các cuộc gặp cấp cao, hai bên thường tặng quà cho nhau. Sau cuộc hội đàm giữa Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Tổng thống B. Ô-ba-ma ở Nhà Trắng cũng vậy. Quà tặng của Chủ tịch nước Việt Nam cho Tổng thống B. Ô-ba-ma là một chiếc cân bằng gỗ! Một món quà nhiều ý nghĩa khi xét đến vị thế và quan hệ của Hoa Kỳ và Việt Nam trong tổng thể các mối bang giao quốc tế hiện nay.
VĂN YÊN (Ghi chép của phóng viên Báo Quân đội nhân dân - gửi từ Niu Y-óoc)