Thưa các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Thưa các đồng chí tướng lĩnh, sĩ quan cao cấp trong Quân đội,

Thưa toàn thể các đồng chí!

Hôm nay, trong không khí hân hoan, phấn khởi của những ngày đầu năm mới 2026 và chuẩn bị đón Tết cổ truyền Bính Ngọ của dân tộc, tôi cùng các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước rất xúc động và vui mừng được gặp mặt các đồng chí đại biểu tướng lĩnh, sĩ quan cao cấp trong Quân đội đã nghỉ hưu, nghỉ công tác. Cuộc gặp mặt hôm nay càng ý nghĩa hơn khi chúng ta vừa tổ chức thành công rất tốt đẹp Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng - Đại hội của ý chí tự chủ, tự lực, tự cường, tự tin trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. 

Thưa các đồng chí,

Nhìn lại chặng đường 96 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, 80 năm thành lập nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và 40 năm đổi mới, chúng ta tự hào khẳng định: Đất nước ta có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay là thành quả được kết tinh từ máu xương, trí tuệ và bản lĩnh của các thế hệ “con rồng cháu tiên” hàng ngàn năm văn hiến. Chúng ta cũng tự hào nói rằng: Trong thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam, có sự đóng góp quan trọng của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng và cá nhân mỗi đồng chí tướng lĩnh, sĩ quan, những “người lính Cụ Hồ” đang có mặt tại đây và hàng triệu triệu người chiến sĩ không có mặt tại đây. Các đồng chí trong buổi gặp mặt hôm nay không chỉ là những người chỉ huy xuất sắc trên mặt trận quân sự, chính trị, mà còn là tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng, lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân và đặc biệt là người Đảng viên, người công dân tốt ở nơi cư trú.

Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu tại gặp mặt đại biểu tướng lĩnh Quân đội nghỉ hưu, nghỉ công tác. Ảnh: KHÁNH TOÀN 

Thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, tôi xin gửi tới các đồng chí tướng lĩnh, sĩ quan cao cấp đã nghỉ hưu, nghỉ công tác, các đồng chí đại biểu, khách quý cùng toàn thể các đồng chí và gia đình lời thăm hỏi ân cần, những tình cảm thân thiết và lời chúc mừng năm mới tốt đẹp nhất. Chúc các đồng chí luôn mạnh khỏe, tiếp tục truyền “ngọn lửa cách mạng” cho thế hệ hôm nay và mai sau.

Trong buổi gặp mặt hôm nay, tôi xin thông tin với các đồng chí một số vấn đề cơ bản liên quan đến Đại hội XIV; xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; về vai trò của Cựu chiến binh trong giai đoạn cách mạng mới.

1-Những nội dung liên quan đến xây dựng Đảng và Đại hội XIV của Đảng

Các đồng chí Cựu chiến binh có mặt hôm nay hầu hết là các đồng chí nắm mạng, nắm truyền thông, nắm thông tin, nắm hơi thở cuộc sống sát nhất, rõ nhất, kỹ nhất. Tôi tin rằng mọi hoạt động của Đảng trong nhiệm kỳ Đại hội XIII vừa qua và những diễn biến tại Đại hội XIV các đồng chí đã nắm rất rõ. Các điểm mới, điểm cốt lõi trong nội dung các văn kiện, trong cách tổ chức, điều hành Đại hội và kết quả Đại hội XIV các đồng chí đã rất rõ, thậm chí các đồng chí còn nắm rõ cả dư luận trong quần chúng, cán bộ đảng viên và dư luận quốc tế đánh giá về Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng vừa qua. Vì vậy, tôi chỉ xin khái quát như sau:

Thông điệp xuyên suốt, bao trùm của Đại hội XIV được gói gọn trong 10 chữ vàng: “Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Đột phá - Phát triển”. Điểm mới và là linh hồn của nghị quyết lần này là tư duy “Tự chủ chiến lược”. Chúng ta không thụ động chờ thời, mà chủ động kiến tạo tương lai với tâm thế “tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc”. Đảng xác định chuyển mạnh từ tư duy “ổn định để phát triển” sang tư duy “phát triển để ổn định”, coi sự phát triển nhanh và bền vững là cách tốt nhất để giữ vững chế độ và bảo vệ Tổ quốc. Tất cả là nhằm thực hiện thành công 2 mục tiêu chiến lược 100 năm, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Nói gọn lại là chúng ta phải duy trì hòa bình, ổn định chính trị; phát triển đất nước nhanh, bền vững; không ngừng nâng cao mọi mặt đời sống của nhân dân.

Phương châm hành động của Đại hội XIV: “Nói đi đôi với làm”, “Làm ngay, làm đến cùng”, “Tất cả vì nhân dân”. Tinh thần quyết liệt được thể hiện ngay từ những việc đầu tiên, những quyết định đầu tiên sau đại hội. Không có độ trễ giữa nghị quyết và thực tiễn, không có khoảng cách giữa tư duy chiến lược và tổ chức thực hiện. Ngay tại Hội nghị Trung ương lần thứ nhất của khóa XIV, ngày 23-1, Bộ Chính trị khóa XIV đã ban hành Chỉ thị về triển khai Nghị quyết Đại hội XIV. Đây là một bước đi sớm, kịp thời, dứt khoát, cho thấy quyết tâm biến Nghị quyết Đại hội thành chương trình hành động cụ thể của cả hệ thống chính trị, với yêu cầu rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ lộ trình và rõ sản phẩm đầu ra.

Tiếp đó, ngày 7-2, Bộ Chính trị tổ chức Hội nghị toàn quốc triển khai Nghị quyết Đại hội XIV với quy mô lớn, nội dung toàn diện và phương thức tổ chức rất mới. Mười chuyên đề trọng tâm được triển khai đồng bộ, bao trùm đầy đủ các lĩnh vực then chốt của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc: Phát triển kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; xây dựng, chỉnh đốn Đảng; tổ chức bộ máy; công tác kiểm tra, giám sát; tuyên giáo, dân vận; vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội. Đây không chỉ là hội nghị truyền đạt nghị quyết mà là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng, là quá trình thống nhất nhận thức, thống nhất hành động, thống nhất quyết tâm chính trị trong toàn Đảng, từ Trung ương đến cơ sở.

Điểm nổi bật trong triển khai Nghị quyết Đại hội XIV là tinh thần hành động đồng bộ, xuyên suốt, không đứt gãy. Từ Trung ương đến địa phương, từ cơ quan hoạch định chính sách đến đơn vị tổ chức thực hiện, từ cán bộ lãnh đạo đến đội ngũ thực thi công vụ, tất cả đều được đặt trong một chỉnh thể thống nhất. Các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền các cấp đã nhanh chóng cụ thể hóa nghị quyết thành chương trình, kế hoạch hành động phù hợp với điều kiện thực tiễn, có trọng tâm, trọng điểm. Các mục tiêu chiến lược được lượng hóa thành chỉ tiêu, nhiệm vụ cụ thể; các khâu đột phá được gắn chặt với trách nhiệm người đứng đầu; tiến độ thực hiện được đặt dưới sự kiểm tra, giám sát thường xuyên.

Tinh thần quyết liệt ấy đã tạo nên một khí thế mới trong toàn xã hội. Người dân cảm nhận rõ sự chuyển động nhanh hơn, mạnh hơn của bộ máy; doanh nghiệp cảm nhận rõ hơn tinh thần đồng hành, kiến tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của Nhà nước; đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức ý thức sâu sắc hơn yêu cầu đổi mới tư duy, phương pháp làm việc, nâng cao kỷ luật, kỷ cương và hiệu quả công vụ. Trên khắp mọi miền Tổ quốc, trong mọi giai tầng xã hội, một bầu không khí hành động tích cực, khẩn trương, bài bản, quyết liệt, có kiểm soát, đang lan tỏa tới từng người dân.

Điều làm nên chiều sâu và sức thuyết phục của quá trình triển khai Nghị quyết Đại hội XIV chính là tinh thần làm thật, làm hiệu quả, thực chất, lấy sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp làm thước đo, lấy kết quả phát triển bền vững làm tiêu chí đánh giá. Những điểm nghẽn kéo dài của thể chế, những vướng mắc trong tổ chức thực hiện, những tồn tại chậm được xử lý đều được nhìn nhận thẳng thắn, đặt ra lộ trình giải quyết cụ thể, gắn với trách nhiệm rõ ràng. Không né tránh khó khăn, không đùn đẩy trách nhiệm.

Có thể khẳng định, việc triển khai Nghị quyết Đại hội XIV ngay sau khi Đại hội bế mạc đã tạo nên một bản hòa ca thống nhất của ý chí, niềm tin và hành động. Đó là sự kết hợp chặt chẽ giữa tầm nhìn chiến lược và quyết tâm chính trị; giữa vai trò lãnh đạo của Đảng và sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị; giữa khát vọng phát triển của dân tộc và nỗ lực vươn lên của mỗi người dân, mỗi doanh nghiệp. Một khí thế mới đang được khơi dậy, một động lực mới đang được mở ra, tạo nền tảng vững chắc để đất nước bước vào giai đoạn phát triển nhanh hơn, bền vững hơn, chủ động và tự tin hơn trong những năm tới.

2- Tình hình thế giới và hành động của chúng ta

Thế giới hiện nay đang ở trong giai đoạn chuyển động nhanh, sâu sắc, phức tạp và nhiều bất định, đánh dấu sự tái cấu trúc mạnh mẽ của trật tự quốc tế trên cả phương diện địa chính trị và địa kinh tế. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, lan rộng và mang tính toàn diện, không còn giới hạn trong lĩnh vực quân sự-an ninh truyền thống mà mở rộng sang các không gian mới như kinh tế, tài chính, thương mại, công nghệ, chuỗi cung ứng, tài nguyên, khoáng sản chiến lược và không gian số. Quyền lực quốc gia ngày càng được định hình bởi khả năng kiểm soát các “đòn bẩy mềm nhưng có sức nặng cứng” như thị trường, tài chính, tiền tệ, tiêu chuẩn kỹ thuật, dữ liệu, tri thức và khả năng thiết lập, chi phối luật chơi quốc tế.

Một đặc điểm nổi bật của bối cảnh hiện nay là xu hướng xử lý các vấn đề quốc tế theo cách tiếp cận ngày càng thực dụng và cứng rắn hơn. Lợi ích quốc gia-dân tộc được đặt lên hàng đầu, đi kèm với việc gia tăng sử dụng các công cụ phi quân sự để gây sức ép và điều chỉnh hành vi của các quốc gia khác. Áp lực “chọn bên” không còn thể hiện chủ yếu qua liên minh quân sự, mà được triển khai tinh vi thông qua trừng phạt tài chính, kiểm soát thương mại, áp thuế, hạn chế công nghệ, siết đầu tư, thao túng thị trường năng lượng, khoáng sản và các nguồn lực chiến lược. Sự gắn kết ngày càng chặt giữa kinh tế và an ninh làm xóa nhòa ranh giới giữa cạnh tranh và đối đầu, giữa hợp tác và xung đột, khiến môi trường phát triển toàn cầu trở nên mong manh và khó lường hơn.

Cùng với đó, các thách thức an ninh phi truyền thống gia tăng nhanh chóng và chồng lấn lẫn nhau. Biến đổi khí hậu diễn biến ngày càng cực đoan, tác động trực tiếp đến an ninh lương thực, an ninh nguồn nước, sinh kế và ổn định xã hội. Thiên tai, dịch bệnh, khủng hoảng y tế toàn cầu, an ninh năng lượng, an ninh mạng, an ninh dữ liệu, di cư, già hóa dân số trở thành những vấn đề xuyên biên giới, vượt quá năng lực xử lý đơn lẻ của từng quốc gia. Trong khi đó, các cơ chế hợp tác đa phương toàn cầu và khu vực đang chịu sức ép suy giảm hiệu lực, niềm tin chiến lược bị xói mòn, nguy cơ phân mảnh và bất ổn kéo dài ngày càng rõ nét.

Tuy nhiên, trong chính bối cảnh đầy thách thức ấy cũng đang hình thành những xu thế mới mở ra thời cơ và dư địa phát triển. Cạnh tranh chiến lược buộc các nền kinh tế phải tái cấu trúc chuỗi cung ứng, đa dạng hóa thị trường và đối tác, giảm phụ thuộc đơn tuyến. Chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, kinh tế tri thức, đổi mới sáng tạo trở thành động lực tăng trưởng chủ đạo của giai đoạn tới. Nhu cầu hợp tác trong các lĩnh vực khí hậu, y tế, khoa học-công nghệ, phát triển bền vững vẫn là dòng chảy khách quan, tạo không gian cho những quốc gia có năng lực thích ứng cao, chính sách ổn định và vị thế đối ngoại cân bằng nâng cao vai trò trong cấu trúc khu vực và toàn cầu.

Việc triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và hiện thực hóa hai mục tiêu chiến lược 100 năm của Việt Nam đứng trước những yêu cầu mới rất cao. Thách thức đến từ môi trường quốc tế bất định, cạnh tranh gay gắt, rủi ro lan truyền nhanh và sự gia tăng các cú sốc từ bên ngoài. Song thuận lợi cũng đến từ xu thế tái định hình phát triển toàn cầu, từ không gian hợp tác mới, từ dư địa cải cách trong nước và từ nội lực đã được tích lũy sau nhiều năm đổi mới.

Chỉ thị của Ban Thường vụ Trung ương Đảng, ban hành ngày 12-3-1945 đã huấn lệnh “Nhật, Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” cho thấy sự sáng suốt của Đảng, của Bác Hồ trong ứng xử với thời cuộc. Kế thừa truyền thống đó, Đảng ta cũng đưa ra “hành động của chúng ta” để phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Với dân tộc ta “trong cái khó, ló cái khôn” là điều tất yếu.

Yêu cầu đặt ra cho Việt Nam là phải kiên định đường lối độc lập, tự chủ, đồng thời chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, hiệu quả. Cần nâng cao năng lực nội sinh của nền kinh tế, tăng cường sức chống chịu trước các cú sốc bên ngoài, bảo đảm an ninh kinh tế, an ninh tài chính, an ninh năng lượng, an ninh lương thực và an ninh dữ liệu. Đồng thời, phải tận dụng hiệu quả các xu thế mới về chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, đổi mới sáng tạo và kinh tế tri thức để tạo động lực tăng trưởng dài hạn. Trong sự đan xen giữa thách thức và thời cơ, việc tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV đòi hỏi tư duy chiến lược sắc bén, hành động quyết liệt, linh hoạt và sáng tạo, qua đó biến áp lực thành động lực, biến thách thức thành cơ hội, tạo nền tảng vững chắc để đất nước tiến bước vững vàng trên con đường thực hiện thành công hai mục tiêu chiến lược 100 năm.

3. Những định hướng lớn về xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc

Trong bối cảnh thế giới và khu vực đang trải qua những biến động to lớn, phức tạp và khó lường chưa từng có, nhiệm vụ xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc đang đặt ra những yêu cầu mới, cấp thiết và cao hơn bao giờ hết.

Từ những chuyển biến mạnh mẽ và kết quả toàn quân đã đạt được trong thời gian qua, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị đánh giá cao sự chủ động, nhạy bén và quyết liệt của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, cấp ủy, chỉ huy các cấp đã cụ thể hóa và bước đầu thực hiện có hiệu quả “2 kiên định, 2 đẩy mạnh, 2 ngăn ngừa” và “5 vững”.

2 kiên định: Kiên định đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng; kiên định xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị. 2 đẩy mạnh: Đẩy mạnh xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; đẩy mạnh hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng. 2 ngăn ngừa: Ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột; ngăn ngừa mọi biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Đảng bộ Quân đội và toàn quân. 5 vững: Chính trị vững, kỷ luật vững, công nghệ vững, nghệ thuật quân sự vững, đời sống bộ đội vững.

Quán triệt Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XII, toàn quân cần tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm túc 4 định hướng chiến lược cơ bản sau:

Thứ nhất: Phải kiên định nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội nhân dân Việt Nam. Đây là nhân tố quyết định sự trưởng thành, chiến thắng của Quân đội ta. Toàn quân cần tập trung xây dựng Đảng bộ Quân đội thật sự trong sạch, vững mạnh, gương mẫu, tiêu biểu cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Phải không ngừng tăng cường bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc của Quân đội; giữ vững và phát huy phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”. Cán bộ, chiến sĩ phải tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Chúng ta phải chủ động, nhạy bén trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, làm thất bại mọi âm mưu “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang.

Thứ hai: Tập trung xây dựng Quân đội tinh nhuệ, hiện đại; nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của toàn quân. Tiếp tục điều chỉnh tổ chức lực lượng tinh, gọn, mạnh. Nghiên cứu thành lập một số lực lượng mới và bảo đảm vũ khí trang bị đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa Quân đội. Thực hiện tốt nhiệm vụ phòng thủ dân sự; chuẩn bị đầy đủ lực lượng, phương tiện, phương án để thực hiện nhiệm vụ “chiến đấu” của Quân đội trong thời bình, như: Phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, dịch bệnh, sự cố môi trường, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn. Quân đội phải thực sự là đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất.

Thứ ba: Xây dựng, phát triển nền công nghiệp quốc phòng theo hướng chủ động, tự lực, tự cường, lưỡng dụng và hiện đại. Chúng ta phải làm chủ được công nghệ, nhất là công nghệ lõi, công nghệ nguồn để tự chủ trong sản xuất vũ khí, trang bị khí tài phù hợp với nghệ thuật quân sự Việt Nam và điều kiện tác chiến mới. Cần tập trung nguồn lực triển khai các chương trình, dự án trọng điểm về đóng tàu quân sự, sản xuất tên lửa, máy bay trực thăng, vệ tinh viễn thám, các phương tiện không người lái và vũ khí phòng chống UAV. Đồng thời, phải kết hợp chặt chẽ giữa kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế; phát triển công nghiệp quốc phòng trở thành mũi nhọn của công nghiệp quốc gia, đóng góp tích cực vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Thứ tư: Quán triệt sâu sắc quan điểm bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, “giữ nước từ khi nước chưa nguy”. Phải nâng cao năng lực nghiên cứu, dự báo, đánh giá đúng tình hình, kịp thời tham mưu với Đảng, Nhà nước các đối sách xử lý thắng lợi các tình huống, không để bị động, bất ngờ. Chúng ta cần xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân và đặc biệt là xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc. Mỗi cán bộ, chiến sĩ phải thực sự là chỗ dựa tin cậy của nhân dân, gắn bó máu thịt với nhân dân; tích cực tham gia phòng, chống thiên tai, cứu hộ, cứu nạn, giúp dân xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, coi đây là nhiệm vụ “chiến đấu” trong thời bình. Đồng thời, phải đẩy mạnh hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng linh hoạt, thực chất, hiệu quả, góp phần bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc và kiến tạo môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.

4-Vai trò và vị trí của Hội Cựu chiến binh Việt Nam và các hội viên

Trong suốt tiến trình cách mạng Việt Nam, từ đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc đến công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước, lực lượng cựu chiến binh luôn giữ một vị trí đặc biệt trong nhận thức và đánh giá của Đảng. Với bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong sáng, tinh thần trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân, Hội Cựu chiến binh Việt Nam đã và đang khẳng định vai trò là lực lượng chính trị-xã hội tin cậy, là chỗ dựa vững chắc của Đảng, Nhà nước và nhân dân trong triển khai các nghị quyết của Đảng vào cuộc sống, góp phần xây dựng một xã hội ngày càng tốt đẹp, công bằng, văn minh và giàu bản sắc.

Đảng ta luôn nhất quán đánh giá cao vai trò nòng cốt của Hội Cựu chiến binh trong việc tuyên truyền, quán triệt, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương, của cấp ủy các cấp. Với uy tín xã hội cao, sự gương mẫu trong lời nói và hành động, các cấp Hội đã góp phần đưa chủ trương của Đảng thấm sâu vào đời sống nhân dân, đặc biệt ở cơ sở, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Cựu chiến binh không chỉ là người “nói đúng, nói trúng” mà còn là người “làm trước, làm gương”, qua đó củng cố niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, tăng cường sự đồng thuận xã hội và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.

Trong phát triển kinh tế-xã hội, Cựu chiến binh Việt Nam đã và đang thể hiện rõ vai trò tiên phong, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm. Nhiều mô hình kinh tế do Cựu chiến binh làm chủ đã trở thành điểm sáng trong xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế địa phương, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh. Không ít Cựu chiến binh, dù tuổi cao, vẫn tích cực tham gia lao động sản xuất, khởi nghiệp, đổi mới mô hình kinh doanh, tạo việc làm cho con em đồng đội và người dân địa phương.

Trong lĩnh vực vận động quần chúng, Cựu chiến binh luôn là lực lượng có sức thuyết phục đặc biệt. Từ phong trào giữ gìn an ninh trật tự, hòa giải ở cơ sở, phòng chống tệ nạn xã hội, đến các cuộc vận động lớn như xây dựng đời sống văn hóa, bảo vệ môi trường, chăm lo người nghèo, người yếu thế, Cựu chiến binh đều phát huy vai trò gương mẫu, trách nhiệm, nghĩa tình. Sự tận tụy, chân thành, không vụ lợi của các Cựu chiến binh đã tạo nên sức lan tỏa mạnh mẽ, góp phần củng cố mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân, giữa chính quyền với cơ sở.

Đảng cũng đặc biệt trân trọng và đánh giá cao vai trò của Cựu chiến binh trong công tác đối ngoại nhân dân. Với trải nghiệm chiến tranh, với tinh thần nhân văn, khoan dung và khát vọng hòa bình, các Cựu chiến binh Việt Nam đã góp phần quan trọng trong việc hàn gắn vết thương chiến tranh, tăng cường hiểu biết, xây dựng lòng tin, thúc đẩy quan hệ hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước, nhất là những quốc gia từng là đối thủ trong chiến tranh. Những hoạt động đối ngoại nhân dân do Cựu chiến binh đảm nhiệm đã góp phần làm sâu sắc thêm đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển của Đảng và Nhà nước ta.

Trước yêu cầu mới của sự nghiệp cách mạng, đặc biệt trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, trách nhiệm của Cựu chiến binh Việt Nam càng trở nên quan trọng và nặng nề hơn. Đảng kỳ vọng mỗi Cựu chiến binh, bằng uy tín, kinh nghiệm và bản lĩnh của mình, sẽ tiếp tục là lực lượng xung kích trong việc tuyên truyền, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; giữ vững niềm tin, lý tưởng cách mạng trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ.

Đối với đội ngũ tướng lĩnh, sĩ quan cao cấp Quân đội đã nghỉ hưu, Đảng, Quân ủy Trung ương đặt niềm tin và kỳ vọng đặc biệt. Đây là những cán bộ đã được tôi luyện qua thực tiễn lãnh đạo, chỉ huy; có tầm nhìn chiến lược, có ảnh hưởng lớn trong xã hội và trong Lực lượng vũ trang. Trách nhiệm của các đồng chí không chỉ dừng lại ở vai trò nêu gương, mà còn là việc tích cực tham gia đóng góp trí tuệ, kinh nghiệm vào quá trình hoạch định, tổ chức thực hiện các chủ trương lớn của Đảng; góp phần giữ vững ổn định chính trị-xã hội, củng cố quốc phòng-an ninh, xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.

Trong hành trình hiện thực hóa hai mục tiêu chiến lược 100 năm-xây dựng nước Việt Nam phát triển, hùng cường, thịnh vượng; nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc-Cựu chiến binh Việt Nam tiếp tục được Đảng xác định là lực lượng quan trọng, không thể thiếu. Đó là lực lượng kết tinh truyền thống yêu nước, tinh thần cách mạng, ý chí độc lập tự cường và khát vọng vươn lên của dân tộc Việt Nam. Mỗi Cựu chiến binh, dù ở cương vị nào, vẫn là những “chiến sĩ” trên mặt trận mới-mặt trận xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời bình.

Đảng tin tưởng sâu sắc rằng, với truyền thống vẻ vang, với bản lĩnh kiên trung và tinh thần trách nhiệm cao trước Đảng, trước nhân dân và trước lịch sử, Hội Cựu chiến binh Việt Nam bước sang tuổi 37 (1989-2026) và từng Cựu chiến binh Việt Nam sẽ tiếp tục phát huy vai trò nòng cốt, tiên phong, gương mẫu; đóng góp xứng đáng vào việc đưa Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng vào cuộc sống; góp phần thực hiện thắng lợi hai mục tiêu chiến lược 100 năm; vì một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh và hạnh phúc.

Thưa các đồng chí, kỷ nguyên mới đang mở ra những vận hội lớn lao nhưng cũng đầy thách thức. Tôi tin tưởng rằng, với truyền thống anh hùng vẻ vang, với bản lĩnh và trí tuệ của Quân đội nhân dân Việt Nam, toàn quân sẽ đoàn kết một lòng, nỗ lực phấn đấu, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.

Trong buổi gặp mặt đầm ấm, nghĩa tình hôm nay, lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng luôn trân trọng, đánh giá rất cao vai trò, vị thế quan trọng của các đồng chí cán bộ tướng lĩnh, sĩ quan Quân đội đã nghỉ hưu, nghỉ công tác đang có mặt tại đây.

Với bản lĩnh chính trị được tôi luyện qua thử thách, cùng trí tuệ mẫn tiệp và bề dày kinh nghiệm thực tiễn phong phú, tôi trân trọng đề nghị các đồng chí tiếp tục đóng góp những ý kiến tâm huyết, thẳng thắn vào công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hiến kế để xây dựng Lực lượng vũ trang ta thực sự là lực lượng chính trị, đội quân chiến đấu tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Mong các đồng chí tiếp tục nêu cao tinh thần cảnh giác, chủ động, sắc bén trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, kiên quyết bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ sự thật lịch sử, bảo vệ hình ảnh cao đẹp của Bộ đội Cụ Hồ.

Nhân dịp đón chào năm mới, xuân mới, một lần nữa chúc các đồng chí cùng gia đình luôn dồi dào sức khỏe, hạnh phúc, an khang, thịnh vượng và tiếp tục cống hiến cho sự nghiệp vẻ vang của dân tộc.

Xin trân trọng cảm ơn các đồng chí.