 |
|
Các cựu chiến binh sinh hoạt cùng chi bộ, chúc mừng Vũ Ngọc Khải (thứ hai, bên phải) vừa được mọi người giúp đỡ sửa lại ngôi nhà cũ |
Vũ Ngọc Khải sinh năm 1941 tại thôn Mai Sơn, xã Nhân Hòa, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng. Sau 3 năm tham gia quân đội, về làm công nhân nông trường Sông Bôi, Hòa Bình. 1965 tái ngũ, 1966 đi B, được biên chế vào đơn vị 610-tiểu đoàn độc lập Quân khu 6. Chiến đấu ở Ninh Thuận, Bình Thuận; ấp Ba Tháp, Đơn Dương, Tuyên Đức (nay là Lâm Đồng).
Nhà ông-phía trong cùng của căn nhà cấp 4 ở khu công trình thủy, ngõ 69 Phương Lưu. Ông tiếp tôi ở hiên, nơi ông thường mắc cái võng (kỷ niệm của một thời trận mạc) để nằm nhìn trời mây, nghe đài-một cái đài con, cỡ bao thuốc lá đặt ở hốc tường. Ông bảo như thế đỡ buồn và như sống lại thời vượt Trường Sơn, thời ở Ninh Thuận, Phan Thiết, Lâm Đồng…
- Anh biết không? – giọng ông khàn khàn, nặng nề - Tôi lấy vợ được 4 tháng thì có lệnh tái ngũ, ra đi lúc vợ đang mang bầu, vài tháng sau sinh cháu gái. Năm 1973 nhà tôi mất, con gái tôi còn nhỏ được ngoại nuôi.
Ông hồi tưởng:
- Cứ mải mê chiến đấu, mãi năm 1977 có dịp về quê tôi mới hiểu thêm đức hy sinh của vợ mình. Lấy chồng mười mấy năm, ở với chồng 4 tháng, vượt cạn một mình, mẹ già, con nhỏ, nghĩ thật tội nghiệp.
Giọng ông nghẹn lại. Đôi mắt còn tinh nhanh, nhìn xa xăm:
- Nghĩ cho cùng thì… đâu phải mình gia đình tôi… Chiến tranh mà, phải không anh?
Nói đến đấy, mặt ông tái đi, môi run run, hai tay ôm lấy đầu, tôi đỡ ông nằm xuống võng, ngồi nhìn ông trong cơn đau do vết thương cũ tái phát, một cuộc chiến gian khổ, không vũ khí, không chiến hào. Lúc sau ông từ từ ngồi dậy:
- Đơn vị tôi đánh độc lập, thường là dùng kỹ thuật đặc biệt tinh nhuệ, lấy ít đánh nhiều, đánh nhanh, diệt gọn. Tuy nhiên, có khi “đi nhiều về ít”…
Mỗi khi mùa xuân về lại thức dậy trong ông những kỷ niệm sâu đậm về sự cưu mang nghĩa tình của gia đình ông Mai Lơn ở thôn Lạc Bình, xã Lạc Xuân, huyện Đơn Dương, tỉnh Tuyên Đức (nay là Lâm Đồng).
Ông kể, gia đình ông Lơn nghèo, đông con nhưng “thương mấy đứa giải phóng hết mình”. Nhờ gia đình ông Lơn mà tiểu đội của Vũ Ngọc Khải đã bao lần thoát nạn và nhiều lần nhận được thức ăn, thuốc uống, bánh tét, kể cả nhường hầm cho trú ẩn để chuẩn bị chiến đấu. Ngày đầu chúng tôi chưa quen, ông Lơn dặn: “Ban ngày bọn bay thấy khăn mặt trắng vắt ở cửa còn ban đêm đèn sáng là đừng có “dô” (vào), còn không thấy những tín hiệu đó là an toàn cứ nhào dô, bao nhiêu tao nuôi, tao giấu hết”.
Xuân Mậu Thân (1968), đơn vị Khải phối hợp với các đơn vị khác đánh Trại Hầm nơi đóng quân của một tiểu đoàn Mỹ với đầy đủ các loại vũ khí tối tân hiện đại. Sau khi mở “đột phá khẩu”, tiểu đội phát triển nhanh vào “tung thâm” làm chủ trận địa và chịu đựng bom đạn, pháo bầy của địch suốt 6 ngày. Được lệnh rút, kiểm lại quân số cả tiểu đội chỉ còn 3. Ông bị thương, phải bò vào chuồng lợn của một gia đình ven lộ.
Nghe tiếng súng nổ mấy ngày, nửa đêm tiếng heo kêu khác lạ, bà má lẹ làng đánh thức mấy con:
- Dậy đi bay, ra má biểu-Má hất đầu ra hiệu-đứa nào vô việc ấy, nhớ không?
Như đã được thực hiện nhiều lần, anh con cả ra ngõ trước, vòng lối sau cảnh giới, tìm, xóa dấu vết. Thằng ba, cái tư, được má kéo ra chuồng heo. Nghe tiếng rên khe khẽ, má rờ rẫm đụng người Khải. Ba mẹ con đưa Khải xuống hầm, tìm mọi cách chạy chữa mấy tháng, rồi móc nối với cách mạng để đơn vị đón anh ra cứ. Hôm chia tay, Khải hỏi má:
- Sao má biết con là bộ đội, lỡ con là biệt kích thám báo thì sao?
Má bỏm bẻm cười:
- Tổ cha bay, tao cứ ngửi hơi và rờ quần áo, đầu tóc, máu mê bê bết là tao biết liền.
- Vậy chớ hơi bộ đội với hơi thám báo, có khác nhau sao má?
- Ờ khác nhiều hà.
Cô Út cứ nhìn Khải khóc hoài.
Sau giải phóng, ông được trên cho chuyển làm bí thư chi bộ xã Loan, rồi xã Tư Trang, huyện Đơn Dương. Cùng ăn, cùng ở, cùng làm việc với dân. Già làng Giao Phó, xã Tư Trang từng nói với bà con:
- Thằng Khải là người của cách mạng, của làng mình, cái bụng nó tốt, cái tay nó làm giỏi, phải nghe nó.
Năm 1987, Vũ Ngọc Khải về hưu, ra Bắc trong niềm bịn rịn của bà con dân làng. Hơn 20 mùa xuân gắn bó với mảnh đất cực Nam Trung Bộ, Vũ Ngọc Khải đã vượt qua bao khó khăn hoàn thành nhiệm vụ. Ông đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng nhất, nhiều huân chương Chiến công, huân chương Giải phóng hạng nhất, bằng khen, danh hiệu dũng sĩ cấp ưu tú. Ông lặng lẽ sống trong căn nhà nhỏ còn thiếu tiện nghi mà nhường một nửa trợ cấp thương tật và lương hưu cho con gái (ở nhà chồng) vì thương con vất vả.
Chia tay Vũ Ngọc Khải - người thượng úy, cựu chiến binh, thương binh hạng 2/4 già trước tuổi, thân thể đầy thương tích của một thời trận mạc, tôi nhận ra rằng tất cả những chiến tích của người chiến sĩ cách mạng, những vinh quang của các anh đều bắt nguồn từ nhân dân và được nhân dân cưu mang đùm bọc mà có. Thật đúng với câu: “Khó vạn lần dân liệu cũng xong”.
Vào dịp Tết đến Xuân về, Vũ Ngọc Khải đã được nhân dân xóm phố và Hội cựu chiến binh giúp đỡ 10 triệu đồng để sửa ngôi nhà cũ được khang trang gọn ghẽ hơn.
Đối với Vũ Ngọc Khải thì Xuân 2007 cũng là một mùa xuân đáng nhớ
Bài, ảnh:
NGUYỄN NGỌC BẢO