QĐND: Như tin đã đưa, ngày 16-10, Quân chủng Hải quân phối hợp với báo Quân đội nhân dân tổ chức tọa đàm “Đường Hồ Chí Minh trên biển - Con đường huyền thoại”. Bằng lời kể của các nhân chứng và tham luận của các nhà nghiên cứu khoa học quân sự; các đồng chí cán bộ, quản lý dày kinh nghiệm của Quân chủng Hải quân, buổi tọa đàm đã cung cấp thêm nhiều thông tin làm sáng tỏ hơn vị trí, ý nghĩa của con đường huyền thoại, làm rõ hơn tính độc đáo của nghệ thuật quân sự Việt Nam. Trang Tiếp lửa truyền thống kỳ này, báo Quân đội nhân dân trân trọng gửi đến bạn đọc các ý kiến tham luận và lời kể của các nhân chứng trong buổi tọa đàm.
Món cơm “lắc”
 |
|
Thượng tá Lưu Đình Lừng, nguyên Hải đội trưởng Hải đội 1, đoàn M25. |
Ngồi kể cho chúng tôi nghe về món cơm độc đáo này, đôi mắt mờ đục vì tuổi tác của người thủy thủ già Lưu Đình Lừng chợt sáng hẳn lên. “Sự kiện Vũng Rô” là một sự kiện lớn trong lịch sử của đoàn tàu không số huyền thoại. Tại đây, tháng 2-1965, một chiếc tàu “không số” bị địch phát hiện, thế là yếu tố bí mật không còn nữa. Đường Hồ Chí Minh trên biển phải tạm ngừng hoạt động. Bác Lừng được ăn món cơm “lắc”, xuất phát từ câu chuyện này.
Tháng 10-1965, Đoàn M25 chọn tàu 42 do thuyền trưởng Nguyễn Văn Cứng và chính trị viên Trần Ngọc Ẩn chỉ huy, vận chuyển 60 tấn hàng theo chiến thuật mới: “… đi xa bờ, xác định tàu bằng phương pháp thiên văn, đi theo các vì sao”. Bác Lưu Đình Lừng là thủy thủ trên chuyến tàu có tính chất “thử nghiệm” ấy.
Chuyến này khác hẳn các chuyến trước, vì địch đã bố phòng, kiềm tỏa gắt gao, tàu địch phục ở mọi nơi, chỉ chờ tàu ta lọt vào là hành động. Vì thế, ta phải chọn lối đi qua nhiều vùng biển lạ, lợi dụng sự thất thường của thời tiết, lợi dụng cả những cơn bão để tránh địch. Ánh mắt ông Lừng càng trở nên linh lợi khi nhớ lại những lần “đụng” các tàu khu trục của địch trên biển, nó bám sát và giở trò đe dọa, thử thách ta, nhưng tàu 42 đã ngụy trang bằng một lớp sơn mới, trông giống hệt một chiếc tàu đánh cá… Đã vậy, các thủy thủ trên tàu còn tỏ ra “thân thiện” với địch, khi chúng đến gần còn vẫy chào rối rít và ném cả cam, chuối mời chúng ăn…
Được vài hôm thì gặp gió mùa đông bắc, thủy thủ trên tàu lo việc chống chọi với gió bão và sóng biển, ai cũng nôn hết mật xanh, mật vàng, mệt mà không có cơm ăn vì sóng “vật” con tàu khiến không nồi cơm nào đứng yên quá vài phút.
Thuyền trưởng Nguyễn Văn Cứng là người duy nhất không say sóng, lao vào xoay vần với nồi cơm. Mỗi lần sóng đánh vào thì nhấc nồi cơm lên, sóng qua thì đặt nồi cơm xuống nấu tiếp. Sau nửa ngày thì cơm cũng chín nhưng cả tàu mệt đến mức không ai ngồi lên ăn được. Nguyễn Văn Cứng buộc phải dùng quân lệnh, anh phát lệnh báo động toàn tàu, ai nấy bật dậy như cái lò xo, xốc dậy nhai tóp tép được ít hạt cơm, nhờ vậy mà hồi phục dần sức khỏe. Anh em lại đem chuyện chị Sứ trong tác phẩm Hòn Đất ra bàn luận, qua đó nêu cao quyết tâm “phải bất khuất như chị Sứ”.
Chuyến đi đó thu được thắng lợi rực rỡ, sau nhiều ngày “lang thang” trên biển, tàu đi vào bến Kiến Vàng (Cà Mau), giao hàng và trở về an toàn.
Dịp này, những cựu thủy thủ trên chuyến tàu 42 ngày ấy có dịp gặp nhau, ai cũng nhắc đến món cơm “lắc” của thuyền trưởng Nguyễn Văn Cứng, như nhắc nhau giữ vững sự “cứng rắn về ý chí, vững vàng về bản lĩnh” trong cuộc sống đời thường.
HƯƠNG VÂN (ghi)
Cứng hơn sắt thép
 |
|
Phóng viên báo QĐND trò chuyện với đồng chí Nguyễn Văn Phong, nguyên pháo thủ số 1. Sau đó trở thành thuyền trưởng trên con tàu không số năm xưa. |
Lần đầu gặp bác Nguyễn Văn Phong, tôi cứ ngỡ bác là một doanh nhân, chủ một doanh nghiệp “có cỡ” nào đó.
Đáp lại câu hỏi của tôi về nghề nghiệp, bác hỏi: “Cháu đã nghe tên người anh hùng Nguyễn Phan Vinh bao giờ chưa? Bác là đồng đội, từng chứng kiến giây phút hy sinh của anh hùng, liệt sĩ Nguyễn Phan Vinh đấy”.
Theo lời kể của bác Phong, trận chiến cảm tử của tàu 235 đêm ngày 29-2-1968 như một thước phim quay chậm, dần hiện ra.
Ngày 27-2-1968, tàu 235 mà bác Phong là thủy thủ, do thuyền trưởng Nguyễn Phan Vinh và chính trị viên Nguyễn Tương chỉ huy, chở hơn 14 tấn vũ khí đi vào bến Hòn Hèo (Khánh Hòa). Khi còn cách bờ chừng 19 hải lý, tàu 235 bị địch phát hiện, 7 tàu chiến của chúng bao vây hòng bắt sống tàu ta. Tàu 235 rơi vào tình thế ngặt nghèo: phía trước là núi chắn, phía sau là 7 tàu địch đang bắn mạnh làm máy tàu ta hỏng nặng. Thuyền trưởng Phan Vinh quyết định hủy tàu và rút lên bờ. Một cột lửa bùng lên, tàu 235 nứt làm đôi, một nửa chìm xuống biển, một nửa văng lên lưng chừng núi Bà Nam.
Phan Vinh và thợ máy Ngô Văn Thứ là hai người cuối cùng rời tàu, hai anh dừng lại, đánh chặn địch đổ bộ. Hai anh đã chiến đấu đến hơi thở cuối cùng để tạo điều kiện cho đồng đội tìm đường rút lui.
Bác Phong là người thuộc nhóm lên bờ trước, gồm 7 người, do thuyền phó Đoàn Văn Nhi chỉ huy. Theo hiệp đồng, họ cứ theo hướng Tây bắc để rút. Cả nhóm trải qua chuỗi ngày hành quân giữa rừng, đói khát, ai cũng kiệt sức. Ngày thứ 11, chiến sĩ Khung đi tìm nước uống thì bị địch bắt, còn thuyền phó Nhi ngất đi, đồng đội giấu tạm anh vào một chỗ kín rồi tiếp tục hành trình…
Không thể tả xiết ý chí quyết tâm của những chiến sĩ hải quân bị lạc rừng, họ vẫn tìm mọi cách sống sót để trở về với cuộc chiến đấu. Những ngày đầu, họ phải uống nước tiểu của chính mình để giải khát, mấy ngày sau, nước tiểu chát đắng không thể uống nổi nữa, họ thều thào nói chuyện bông phèng về những món ăn ngon, cốt để đồng đội tiết nước bọt ra cho đỡ khát; họ chia nhau ăn từng con kiến nhỏ, vì biết trong kiến có vi-ta-min. Ngày thứ 12, 5 chiến sĩ còn lại gặp được quân giải phóng, họ quay lại tìm thuyền phó Nhi nhưng anh không còn ở đó nữa, chỉ còn rớt lại một mảnh bông băng đã khô máu, một mảnh áo rách tơi tả… Rất có thể, anh đã bị thú dữ cướp đi. 5 đồng đội của anh đã vượt qua dãy Trường Sơn để trở lại đội ngũ của Đoàn tàu không số.
Bây giờ, một nửa con tàu 235 huyền thoại ấy vẫn nằm trên núi Bà Nam. Đoàn M25 đã xây ở đây một tấm bia tưởng niệm, và cũng tại nơi đây, bác Nguyễn Văn Phong cùng các đồng đội còn sống đã kể lại câu chuyện ngày ấy cho cán bộ, chiến sĩ Đoàn M25 nghe…
Vâng, bây giờ thì bạn đọc đã biết bác Phong là ai rồi đấy. Nhìn vẻ phong nhã, lịch thiệp của một người ngoài 60 tuổi, không thể tưởng tượng được là bác đã trải qua những tháng ngày chiến đấu bi hùng nhường ấy.
MÃ TÙNG (ghi)
Mười năm bặt tin
|

|
|
Đại úy chuyên nghiệp, nguyên máy trưởng tàu 69 Đỗ Xuân Tâm. |
Ấy là chị Nguyễn Thị Xuân, còn chồng chị là Đỗ Xuân Tâm, người được đồng đội mệnh danh là “con rái cá” của đoàn M25 Quân chủng Hải quân.
Hôm nay chỉnh tề trong bộ quân phục hải quân mang cấp bậc đại úy chuyên nghiệp anh bồi hồi kể lại với chúng tôi quãng thời gian oanh liệt của tuổi thanh xuân. Và trong quãng thời gian ấy đã gói một mối tình thủy chung, son sắt, lãng mạn của chị và anh. Mối tình cũng đẹp và huyền thoại như những câu chuyện của đoàn tàu không số!
Năm 1964 anh đang học năm cuối của Trường trung cấp kiến trúc Hà Nội thì viết đơn tình nguyện vào bộ đội và được nhận về đơn vị “đặc biệt” của Quân chủng Hải quân.
Cũng cùng năm ấy, cô gái cùng quê đẹp người, đẹp nết đã đồng ý nhận lời yêu anh. Và cũng đúng năm ấy, tháng 12-1964 anh được chọn đi trong đoàn tàu không số. Sông nước đối với anh là “chuyện nhỏ” vì 15 tuổi anh đã theo bố đi biển, nhưng xa nàng, lại phải tuyệt đối giữ bí mật thì đúng là một thử thách lớn. Có thể anh sẽ mất nàng, vì nàng không còn tin anh! Nhưng nhiệm vụ là số một. Anh ra đi tàu cập cảng an toàn vào Cà Mau. Chuyến đi rất thuận tiện, vì địch không bao giờ nghĩ có chuyện “Việt cộng” từ miền Bắc lại chở được vũ khí vào Nam bằng những con tàu đơn sơ như thế.
Người yêu anh ngỡ ngàng không hiểu anh là người thế nào mà thoắt đến, rồi thoắt đi cứ như “ma trơi”. Chuyến thứ hai cũng giống chuyến thứ nhất, có điều thời gian dài hơn vì để che mắt địch tàu của anh phải qua In-đô-nê-xi-a, Phi-líp-pin, Ma-lai-xi-a rồi mới bẻ lái vào đất mũi Cà Mau. Lần này về đất liền được phép của đơn vị anh và chị làm lễ cưới. Ở với nhau đến đêm thứ 3 thì chị dậy không thấy anh đâu. Thì ra, đêm hôm ấy anh có lệnh về Quảng Ninh đi chuyến thứ 3. Là vợ của anh rồi, mà chị vẫn không hề biết anh là lính của tàu không số.
Chuyến thứ 3 này, tàu của anh đến cửa sông Ba Động (Trà Vinh) thì địch nghi vấn, có nguy cơ bị lộ, nên chỉ huy quyết định phải hủy tàu, cấp trên lệnh cho anh em trên tàu phải mau chóng cải trang, trà trộn dân đánh cá, chờ thời cơ trở về cơ sở, tuyệt đối không để ai biết tung tích của mình.
Là cán bộ Đoàn và là Chủ tịch Hội phụ nữ của thị xã Đồ Sơn, chị có điều kiện thường xuyên vào đơn vị của anh, nhưng 10 năm liền hỏi lãnh đạo chỉ huy thì ai cũng chỉ nói ngắn gọn, chung chung: “Anh đi công tác biệt phái”.
Thế là vợ anh, gia đình, làng xóm không ai biết anh làm gì, đi đâu, còn hay đã hy sinh... Cũng vì để giữ bí mật mà các chế độ đi chiến trường của anh cũng không có. Chị thủy chung chờ đợi 10 năm liền, đến tận tháng 7-1975 đơn vị mới đến thông báo cho chị biết, anh hiện đang công tác trên tàu 69 đóng tại cảng Bến Thủy, Cần Thơ và đưa chị vào thăm anh. Niềm vui đến với chị quá bất ngờ, nhất là lại được ở với anh trọn 3 tháng trên mảnh đất miền Nam thân yêu trong những ngày đầu giải phóng.
Biết chuyện tình của anh chị, chúng tôi lại càng hiểu thêm bí mật chính là yếu tố rất quan trọng để đường Hồ Chí Minh trên biển trở thành con đường huyền thoại.
HUY THIÊM
|
Nhà báo đầu tiên viết “đường Hồ Chí Minh trên biển”
...Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, “Đường Hồ Chí Minh trên biển” hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình, các phóng viên báo chí mới có điều kiện tìm hiểu, gặp gỡ viết bài về các cán bộ, chiến sĩ đã từng hoạt động trên con đường huyền thoại này.
22 số ký sự “Đường mòn trên biển” của nhà báo Tư Đương, phóng viên báo Quân đội nhân dân đăng từ ngày 17-8 đến 15-9-1976 trên báo Quân đội nhân dân. Từ ký sự này, lần đầu tiên bạn đọc được biết đến “Đường Hồ Chí Minh trên biển”.
Trên các ấn phẩm của báo Quân đội nhân dân, hình tượng người chiến sĩ hoạt động trên “Đường Hồ Chí Minh trên biển” ngày càng được khắc họa đầy đủ hơn với những phẩm chất sáng ngời: cách mạng, yêu nước, yêu quê hương, yêu đồng bào đồng chí, bất khuất, kiên cường, dũng cảm, mưu trí, sáng tạo, đoàn kết, kỷ luật. Những sự kiện đáng nhớ trong 16 năm trên tuyến “Đường Hồ Chí Minh trên biển” được báo công bố cho độc giả cả nước biết. Tấm gương của các cán bộ: Bông Văn Dĩa, Nguyễn Văn Nhờ (Tư Mau), Nguyễn Phan Vinh, Đặng Văn Thanh… dần dần được viết và đăng trên báo.
Trong các bài đăng trên báo Quân đội nhân dân, sự gắn bó mật thiết giữa người chỉ huy tàu với chính trị viên, cấp ủy và chi bộ, sự gắn bó giữa quần chúng với Đảng được thể hiện rất rõ. Dù hoạt động trên bờ, đi giữa biển khơi, gặp các tình huống phải đối phó với địch, hay vào đến bến dỡ hàng, ở đâu vai trò lãnh đạo của Đảng cũng được đề cao, các đảng viên trên tàu là hạt nhân đoàn kết cả con tàu hoàn thành nhiệm vụ.
Đã có hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ Hải quân nhân dân Việt Nam trực tiếp hoạt động và lập nên biết bao kỳ tích trên “Đường Hồ Chí Minh trên biển”. Đây sẽ còn là kho tàng quí giá để báo Quân đội nhân dân nói riêng, các phương tiện thông tin đại chúng nói chung tiếp tục khai thác, đưa đến các thế hệ bạn đọc những bài viết ngày càng rõ hơn, đầy đủ hơn những hoạt động thầm lặng, rất anh hùng mà cha anh đã lập nên.
LÊ LIÊN |
Em nuôi của Đặng Thùy Trâm
“Gặp dân là sống”, đó là kinh nghiệm mà các thủy thủ Đoàn tàu không số vẫn “truyền tai” nhau sau mỗi chuyến chuyển hàng. Với cựu chiến binh Lưu Công Hào thì đó không chỉ là kinh nghiệm, mà là một kỷ niệm đầy ắp nghĩa tình với đồng bào huyện Đức Phổ (Quảng Ngãi), nơi luôn nhắc ông nhớ đến người chị kết nghĩa-nữ liệt sĩ, Anh hùng LLVT nhân dân Đặng Thùy Trâm.
Câu chuyện của ông khiến buổi tọa đàm hôm ấy dường như lắng lại! Bằng chất giọng chậm rãi nhưng chắc nịch của một cựu thủy thủ, ông bộc bạch: Tháng 2-1968, tôi là thủy thủ trên chuyến tàu không số do đồng chí Nguyễn Đức Thắng làm thuyền trưởng, đồng chí Trần Ngọc Tuấn làm chính trị viên. Theo kế hoạch thì tàu sẽ cập bến Mộ Đức nhưng do sóng lớn, chúng tôi bị dạt vào bờ biển thuộc huyện Đức Phổ. Khi cách bờ 12 hải lý, tàu tìm cách bắt liên lạc với bến đón thì bỗng thấy đèn điện sáng trưng, địch đã phát hiện và bao vây tàu từ lúc nào. Trên bờ bộ binh, xe tăng địch cơ động. Chiến đấu là con đường duy nhất, không còn cách nào khác. Có khoảng 5-6 tàu địch và nhiều máy bay gầm rú phía trên, đạn bắn vào tàu như mưa.
Chúng tôi sử dụng hỏa lực trên tàu chống lại quyết liệt. Quân dân Đức Phổ lúc ấy vẫn tưởng là địch diễn tập. Đánh nhau từ lúc 12 giờ đêm đến khoảng hơn 1 giờ sáng thì tàu ta bắn chìm một tàu địch và bắn rơi một trực thăng. Nhờ đó, quân dân Đức Phổ mới biết là tàu không số, hỗ trợ hỏa lực và ứng cứu, chúng tôi đành hủy tàu và thoát lên bờ kịp thời, có 3 thủy thủ hy sinh.
 |
|
Trung tá Lưu Công Hào cùng tuổi trẻ hải quân đọc nhật ký Đặng Thùy Trâm, đoạn viết về các thủy thủ đoàn tàu không số. |
Chúng tôi dìu nhau dạt vào một bãi cạn thuộc thôn Quy Thiện (xã Phổ Hiệp, huyện Đức Phổ). Tôi bị thương nặng với 4 phát đạn vào vùng bụng. Người dân Phổ Hiệp đã giấu chúng tôi trong những căn hầm bí mật ngụy trang bằng cỏ để tránh khỏi sự săn lùng gắt gao của địch. 3 ngày sau, chúng tôi được đưa đến bệnh xá huyện do bác sĩ Đặng Thùy Trâm làm trạm trưởng. Tôi nhớ, đó là ngày 10-3-1968.
Thời gian gần đây, khi cuốn nhật ký của chị Đặng Thùy Trâm được tìm thấy thì cả nước mới được biết đến hình ảnh kiên trung, dũng cảm và thân thương của chị; còn với tôi, hình ảnh ấy đã ăn sâu vào trong trái tim suốt từ ngày ấy. Chị Thùy là người giàu tình cảm, thấy tôi bị thương nặng phải nằm một chỗ, chị thương lắm, nhận tôi làm em nuôi. Những hôm trạm xá ít người bệnh, chị thường kê ghế ngồi tâm sự với tôi, chiếc ghế nhỏ đã xộc xệch nên muốn ngồi vững cũng khó. Biết vậy nên khi đã có thể đi lại, tôi tìm gỗ đóng tặng chị một cái ghế ngồi và chị rất quý chiếc ghế ấy. Bây giờ, đọc lại trang nhật ký chị viết lúc chia tay chúng tôi, có đoạn “...anh em đi rồi, hình ảnh để lại chỉ còn chiếc ghế nhỏ thân thương”, cứ đọc đến đoạn nhật ký đó là tôi không cầm được nước mắt.
Có thể nói, nếu không có sự yêu thương, đùm bọc, chở che của đồng bào Đức Phổ, mà đặc biệt là sự điều trị, chăm sóc của chị Thùy và các y sĩ, y tá khác thì chúng tôi khó mà trở về cùng gia đình, đồng đội hôm nay. Vừa rồi tôi đưa mẹ Doãn Thị Trâm về thăm lại khu vực trạm xá cũ, đời sống đồng bào nơi đây còn nhiều khó khăn lắm, cả tôi và mẹ Trâm đều thấy như mắc nợ điều gì đó với đồng bào và với cả chị Thùy của tôi nữa. Tôi mong Đảng, Nhà nước sớm có chính sách nâng cao đời sống cho bà con của mảnh đất kiên trung này.
HỒNG VÂN (ghi)
Tẩu thoát trước “mũi” địch
Đó là câu chuyện của đại tá, cựu chiến binh Trần Phong, nguyên Đoàn trưởng Đoàn tàu không số M25.
Được bổ nhiệm làm thuyền trưởng một tàu “không số” khi mới 21 tuổi, Trần Phong là một trong số những thuyền trưởng trẻ tuổi nhất của Đoàn M25 hồi ấy. Trẻ không có nghĩa là non, chính bác là một trong những người sớm vận dụng kiến thức thiên văn vào xác định vị trí tàu. Bác kể:
 |
|
Đại tá Trần Phong (ngồi bên trái), nguyên Đoàn trưởng Đoàn M25. |
Chuyến đầu tiên tôi đi vào tháng 7-1963. Trên tàu có 18 người, tôi làm thuyền trưởng, anh Đặng Văn Thanh (sau này là Anh hùng LLVT nhân dân) làm chính trị viên. Khi tàu vào đến Cồn Lợi (Thạnh Phú, Bến Tre) thì bị dạt lên hướng Bắc. Thủy thủ Huỳnh Văn Tiếng nhìn thấy đèn biển chớp, đoán tàu đã bị dạt lên hướng Bắc. Theo thông lệ, thuyền trưởng sẽ hội ý với chính trị viên, họp cấp ủy để nhận định tình hình rồi ra quyết định. Nhưng trời lúc này đã gần sáng, bằng kinh nghiệm của mình, tôi lập tức hạ lệnh cho tàu quay ra, vừa đi vừa đo độ sâu chống cạn rồi tìm cách cập bến. Bến đón lúc ấy đã rút. Thuyền phó Nguyễn Đức Dục giả làm nhà buôn, nhờ ngư dân dẫn vào Cồn Lợi. Trong chớp mắt, các thành viên của tàu không số phối hợp với quân dân trên bờ đưa hàng vào kho và ngụỵ trang tàu cẩn thận.
Lên bờ an toàn, tôi mới thở phào nhẹ nhõm. Vì khi đã quyết định mà không xin ý kiến cấp ủy thì mình phải chịu mọi trách nhiệm. Cứ tưởng chính trị viên không biết về khoảnh khắc quyết định ấy. Không ngờ, anh Thanh bước đến nắm chặt tay tôi và bảo: “Lúc tàu dạt hướng Bắc, hội ý cấp uỷ thì sẽ chắc ăn hơn nhưng sẽ mất thời cơ, tôi biết thế nên tin ở anh”. Hoá ra, anh ấy biết hết suy nghĩ của tôi, nhưng im lặng và đi động viên anh em làm theo mệnh lệnh thuyền trưởng.
Chuyến thứ hai tôi đi vào khoảng tháng 11-1963. Khi vào đến vùng biển Cà Mau thì thuỷ triều đã xuống, bến đón cũng đã rút. Thật may, do trời gần sáng, anh em phát hiện thấy nên đã cho xuồng ra đón. Đang bốc hàng thì máy bay đến. Tôi vội bảo anh em treo cờ ba que lên để ngụy trang, còn bộ đội bến đón thì giả vờ làm người mua hàng. Tâm lý anh em đều căng thẳng, khẩu 12,7mm trên tàu đã bám bắt mục tiêu, các đồng chí khác đều ở trong tư thế sẵn sàng chiến đấu. May sao, máy bay địch lượn 3 vòng rồi bay mất, cũng chẳng rõ vì sao chúng lại không phát hiện ra. Chúng tôi đã kịp tẩu thoát trước khi chúng quay lại. Chiến tranh cũng hay có những chuyện hy hữu như vậy đấy.
NGUYÊN HỒNG (ghi)
Những chuyến hàng xưa và nay
 |
|
Trong khi cuộc Tọa đàm đang diễn ra thì trên tầng cao của sở chỉ huy Quân chủng, cuộc diễn tập hàng không đã diễn ra ngoạn mục cho thấy khả năng SSCĐ cao của Hải quân hôm nay. |
Đúng như tham luận của các nhà nghiên cứu quân sự trong Tọa đàm “Đường Hồ Chí Minh trên biển-Con đường huyền thoại” vừa diễn ra trên đất Cảng. Cách đây 45 năm những con tàu không số của Hải quân nhân dân Việt Nam mới chỉ bé nhỏ, thô sơ nhưng đã không ngại hiểm nguy vượt hàng nghìn hải lý trên biển dưới sự kiểm soát cực kỳ ngặt nghèo của kẻ thù để chi viện cho miền Nam ruột thịt.
Đến nay Hải quân nhân dân Việt Nam đã lớn mạnh không ngừng. Với nhiều trang-thiết bị, phương tiện hiện đại, cuộc sống của những người lính biển cũng đã được cải thiện đáng kể. Những chuyến hàng thường xuyên ra đảo, ngoài những con tàu vận tải lớn còn có cả vận tải bằng đường không.
TUẤN HUY