Trải qua hàng trăm năm, tại thôn Cổ Chất, cây kim, sợi chỉ đã trở thành một phần đời sống, gắn bó với người làng như ruộng đồng với người nông dân. Những tấm vải trắng, những cuộn chỉ nhiều màu sắc không chỉ tạo nên sản phẩm mưu sinh, mà còn dệt nên ký ức và bản sắc của một làng nghề

       Nghệ nhân Nguyễn Văn Loát giới thiệu về thêu tranh truyền thần.

Trong số nhiều dòng sản phẩm thêu, từ phong cảnh, trang phục đến đồ thờ, có một thể loại được coi là đỉnh cao của kỹ thuật và cảm xúc: Thêu truyền thần. Đây là loại hình mà người thợ dựa vào ảnh chân dung để tái hiện lại gần như nguyên vẹn hình ảnh con người trên nền vải. Nhưng hiện nay, số người có thể thực hiện tranh thêu truyền thần trong thôn chỉ còn rất ít. Trong đó, nghệ nhân Khúc Văn Huynh (50 tuổi) và nghệ nhân Nguyễn Văn Loát (88 tuổi) là hai người hiếm hoi vẫn giữ được kỹ thuật tinh xảo này.

Những chia sẻ, hướng dẫn của 2 nghệ nhân phần nào giúp chúng tôi hình dung được sự công phu, tỉ mỉ và cả những yêu cầu khắt khe của nghề, nhưng để thực sự làm được, vẫn cần đến sự tích lũy và cảm nhận cá nhân qua nhiều năm tháng.

      Thêu tranh truyền thần đòi hỏi phải kỹ thuật cao, sự tỉ mỉ và kiên trì.

“Nếu chỉ dừng ở sự giống về hình, tranh truyền thần sẽ không còn ý nghĩa. Điều làm nên giá trị của nó nằm ở khả năng giữ được thần thái, cái hồn của nhân vật, thứ không thể đo đếm bằng khuôn thước hay công thức”, nghệ nhân Nguyễn Văn Loát chia sẻ.

Một ánh mắt hơi trầm, một nụ cười thoáng qua, hay những nếp nhăn rất nhẹ nơi khóe miệng, tất cả đều phải được người thợ cảm nhận và chuyển hóa qua từng lớp chỉ. Đó là quá trình không chỉ đòi hỏi kỹ thuật mà còn cần sự tinh tế trong quan sát và cảm nhận con người. Bởi cùng một khuôn mặt, nếu thiếu đi cái “thần”, bức tranh dù có chuẩn xác đến đâu cũng trở nên vô hồn.

Chính vì vậy, thêu truyền thần được xem là công đoạn khó nhất trong nghề thêu tay. Khó trước hết là ở khuôn mặt. Người thợ không chỉ nhìn thấy bề mặt mà còn phải hiểu được cấu trúc bên trong thớ da, độ sáng tối, cách ánh sáng rơi trên từng chi tiết. Mỗi mũi kim không đơn thuần là một đường chỉ, mà là một quyết định về màu sắc, về sắc độ, về độ nông sâu để tạo nên hiệu ứng thị giác gần nhất với thực tế.

Nghệ nhân Khúc Văn Huynh cho biết: “Để làm được điều đó, người thợ phải có đôi mắt tinh, bàn tay chắc và một nền tảng nhất định về hội họa. Họ phải biết phối màu, biết tạo tương phản, biết tiết chế để làm nổi bật chi tiết cần thiết. Chỉ cần lệch một sắc độ, một đường chỉ không gọn, tổng thể gương mặt có thể bị phá vỡ. Cũng vì thế, thêu truyền thần không phải là kỹ năng có thể học nhanh hay truyền dạy theo khuôn mẫu. Có những người cầm kim cả đời nhưng vẫn không thể chạm tới độ chín”.

        Công đoạn vẽ hình trước khi thêu truyền thần.

Không chỉ khó, tranh thêu truyền thần còn mang một giá trị bền vững theo thời gian. Khác với ảnh chụp có thể phai màu, bong tróc, hay những chất liệu dễ xuống cấp, tranh thêu được tạo nên từ sợi chỉ đã qua xử lý, có thể giữ nguyên màu sắc trong thời gian rất dài. Mỗi tác phẩm không chỉ là một hình ảnh, mà còn là kết tinh của hằng ngày, thậm chí hàng tháng lao động tỉ mỉ. Vì thế, dù giá thành không hề thấp, dòng tranh này vẫn có chỗ đứng riêng, được nhiều người trân trọng và tìm kiếm.

Trong nhịp sống hiện đại, khi mọi thứ ngày càng được rút ngắn về thời gian và tối ưu bằng máy móc, những công việc đòi hỏi sự chậm rãi và kiên nhẫn như thêu truyền thần càng trở nên hiếm hoi. Nhưng cũng chính vì thế, giá trị của nó lại càng được nhìn nhận rõ hơn. 

Thôn Cổ Chất, xã Dũng Tiến, huyện Thường Tín (nay là xã Thường Phúc, TP Hà Nội), từ lâu được biết đến là một trong những làng nghề thêu tay truyền thống của vùng đất Hà Nội. Nghề thêu nơi đây gắn với tên tuổi Lê Công Hành, người làng Quất Động, đỗ Tiến sĩ thời vua Lê Thần Tông, từng đi sứ Trung Hoa và học được kỹ thuật thêu tinh xảo để truyền dạy lại cho người dân trong vùng. Cổ Chất là một trong những địa phương được truyền nghề từ những ngày đầu ấy, dần trở thành nơi cung cấp các sản phẩm thêu nổi tiếng. Từ đó, Lê Công Hành được tôn là “ông tổ nghề thêu”, được lập đền thờ để tưởng nhớ công đức.