Mở đầu chuyên đề, đồng chí Lê Hoài Trung nhắc lại tình cảm đặc biệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh dành cho đồng bào ở xa Tổ quốc. Trong Thư chúc Tết kiều bào năm 1946, Người viết: “Tổ quốc và Chính phủ cũng luôn luôn nhớ thương các đồng bào, như bố mẹ thương nhớ những người con đi vắng”. Tư tưởng đó trở thành mạch nguồn xuyên suốt trong chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với người Việt Nam ở nước ngoài. Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 2-8-2026 của Bộ Chính trị về công tác người Việt Nam ở nước ngoài kế thừa kết quả sau hơn 20 năm thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW, cụ thể hóa các chủ trương, định hướng lớn của Đại hội XIV về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, huy động mọi nguồn lực cho phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Theo đồng chí Lê Hoài Trung, hiện có hơn 6,5 triệu người Việt Nam sinh sống, làm việc, học tập tại hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ. Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài ngày càng lớn mạnh, có nguồn lực đáng kể về tri thức, khoa học - công nghệ, vốn, kinh nghiệm quản trị, thị trường và mạng lưới quốc tế. Tuy nhiên, ở một số địa bàn, đời sống của bà con còn khó khăn, địa vị pháp lý và khả năng hội nhập còn hạn chế; một bộ phận cần được hỗ trợ về pháp lý, thông tin, tiếng Việt, giữ gìn bản sắc văn hóa. Yêu cầu bảo hộ công dân trong các tình huống khẩn cấp cũng ngày càng cao.

Đồng chí Lê Hoài Trung trình bày tại hội nghị. Ảnh: TRỌNG HẢI

Đồng chí Lê Hoài Trung cho biết, Nghị quyết số 23-NQ/TW xác định 4 quan điểm chỉ đạo. Thứ nhất, nâng tầm nhận thức về vị trí, vai trò của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Nghị quyết tiếp tục khẳng định người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc, đồng thời là một trong những nguồn lực chiến lược quan trọng, là cầu nối giữa Việt Nam với thế giới.

Thứ hai, đổi mới về nội hàm và phương thức công tác người Việt Nam ở nước ngoài. Nghị quyết đã nêu yêu cầu nâng tầm tư duy từ vận động, tập hợp, chăm lo lên đồng hành, kiến tạo cơ chế huy động nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài. Đồng hành theo nghĩa là tiếp tục công tác vận động, tập hợp, chăm lo và phát triển công tác đó thực chất hơn. Nhà nước chuyển mạnh sang vai trò kiến tạo, tạo môi trường, cơ chế, chính sách để đồng bào có thể lựa chọn cách đóng góp phù hợp nhất với năng lực, điều kiện và nguyện vọng của mình.

Thứ ba, đặt công tác người Việt Nam ở nước ngoài trong tổng thể khối đại đoàn kết dân tộc. Nghị quyết đề cao tinh thần hòa hợp dân tộc, lấy tương đồng để tăng cường đoàn kết; trân trọng, lắng nghe ý kiến đóng góp xây dựng, kể cả những quan điểm khác biệt nhưng không phương hại đến lợi ích quốc gia dân tộc; xóa bỏ định kiến, gác lại quá khứ, hướng tới tương lai.

Thứ tư, xác định công tác người Việt Nam ở nước ngoài là trách nhiệm của toàn hệ thống chính trị, được tiến hành thường xuyên, liên tục, toàn diện, đồng bộ, có trọng tâm trọng điểm, phù hợp với điều kiện của từng địa bàn.

Nghị quyết đề ra 3 mục tiêu: Xây dựng cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài vững mạnh, hội nhập tốt và giữ gìn bản sắc dân tộc; khơi dậy mạnh mẽ lòng yêu nước, khát vọng cống hiến và phát huy nguồn lực của kiều bào; hoàn thiện thể chế và định hình thành mạng lưới hệ sinh thái kết nối người Việt Nam toàn cầu.

Toàn cảnh hội nghị tại phòng họp Diên Hồng, Nhà Quốc hội, Hà Nội. Ảnh: TTXVN 

Để thực hiện các mục tiêu trên, Nghị quyết xác định 7 nhóm nhiệm vụ, giải pháp. Một là tiếp tục đổi mới tư duy, nâng cao nhận thức và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng. Công tác người Việt Nam ở nước ngoài phải được lồng ghép vào chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển các ngành, lĩnh vực, địa phương. Người đứng đầu phải chịu trách nhiệm, đồng thời thường xuyên nắm bắt tâm tư nguyện vọng, lắng nghe và giải quyết những nhu cầu hợp pháp, chính đáng của bà con.

Hai là hoàn thiện cơ chế, chính sách, tạo môi trường thuận lợi để đồng bào nâng cao vị thế và phát huy tiềm năng, thể hiện vai trò kiến tạo của Nhà nước.

Ba là xây dựng cộng đồng đoàn kết, phát triển, tích cực hướng về quê hương. Trọng tâm là hỗ trợ bà con củng cố địa vị pháp lý, nâng cao khả năng hội nhập, giữ gìn bản sắc, tăng cường hoạt động hội đoàn, đẩy mạnh hòa hợp dân tộc; đồng thời nâng cao hiệu quả công tác bảo hộ công dân, hỗ trợ pháp lý, nhất là trong các tình huống khó khăn khẩn cấp.

Bốn là phát huy hiệu quả nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài phục vụ phát triển và bảo vệ Tổ quốc. Trong đó có việc kết nối các chuyên gia, trí thức, khoa học, doanh nhân, nhà doanh nghiệp trong các lĩnh vực chiến lược; đồng thời mở rộng phương thức đóng góp như từ xa thông qua tư vấn, đào tạo, chuyển giao công nghệ, kết nối đầu tư và thị trường.

Năm là phát huy vai trò của người Việt Nam ở nước ngoài trong giữ gìn tiếng Việt, bản sắc văn hóa và tăng cường gắn kết với quê hương. Trong đó có yêu cầu đổi mới phương thức hỗ trợ, chú trọng thế hệ trẻ, tăng cường các chương trình về nguồn, giáo dục truyền thống, giao lưu, khởi nghiệp và ứng dụng công nghệ số.

Sáu là phát huy vai trò chủ thể của kiều bào trong thông tin tuyên truyền. Người Việt Nam ở nước ngoài không chỉ là đối tượng tiếp nhận thông tin mà còn có thể trở thành chủ thể lan tỏa thông tin chính xác về Việt Nam, quảng bá hình ảnh đất nước, con người và góp phần tăng cường sức mạnh mềm, uy tín quốc gia.

Bảy là kiện toàn tổ chức bộ máy, tăng cường nguồn lực và sự phối hợp. Nghị quyết yêu cầu tổ chức bộ máy tinh gọn nhưng đủ thẩm quyền, vị thế và năng lực điều phối; tăng cường sự phối hợp giữa cơ quan trong nước và cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, giữa trung ương và địa phương, bảo đảm nguồn lực và nâng cao chất lượng đội ngũ làm công tác người Việt Nam ở nước ngoài.

Về tổ chức thực hiện, đồng chí Lê Hoài Trung nhấn mạnh yêu cầu khẩn trương thể chế hóa Nghị quyết thành pháp luật, cơ chế, chính sách và chương trình hành động; xác định rõ nhiệm vụ, trách nhiệm, tiến độ, nguồn lực của từng cơ quan, từng cấp, từng địa phương. Đồng thời rà soát toàn diện các cơ chế chính sách liên quan đến người Việt Nam ở nước ngoài. Trước hết là những vấn đề trực tiếp liên quan đến địa vị pháp lý, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của bộ phận công dân, hội nhập và điều kiện để đồng bào tham gia đóng góp cho đất nước.

Cuối cùng là việc thay đổi phương thức kết nối nguồn lực, xác định đất nước đang cần gì và làm thế nào để kết nối đúng người, đúng năng lực và đúng nhu cầu. Cùng với đó là đo kết quả bằng những chuyển biến thực chất: Mỗi chính sách cần có sản phẩm, mỗi cơ chế cần có đối tượng thụ hưởng, mỗi mạng lưới cần tạo ra kết nối và mỗi nguồn lực được huy động cần gắn với một nhu cầu cụ thể và sản phẩm cụ thể cho đất nước.

Đồng chí Lê Hoài Trung bày tỏ tin tưởng, với sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và đồng hành của hơn 6,5 triệu người Việt Nam ở khắp năm châu, Nghị quyết số 23-NQ/TW sẽ đi vào cuộc sống, vừa chăm lo tốt hơn quyền, lợi ích chính đáng của đồng bào, vừa phát huy trí tuệ, nguồn lực và khát vọng cống hiến của kiều bào, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới.