Những xã vùng cao như Tà Phình, huyện Sa Pa (Lào Cai) bao giờ dòng vốn FDI mới chảy tới.

Tin vui từ Cục Đầu tư nước ngoài, thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong 7 tháng đầu năm 2007, tổng vốn đăng ký đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam (FDI) đạt hơn 7,4 tỉ USD, tăng 49,7% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ có điều, trong khi dòng chủ lưu ào ạt chảy vào lĩnh vực công nghiệp, xây dựng, dịch vụ, thực phẩm, đồ uống… thì đối với địa hạt nông nghiệp - nông thôn, dòng vốn ngoại lại chảy rất… lơ thơ! Làm gì để “phù sa” FDI đến nhiều hơn với các vùng quê nghèo?

Thực trạng: “Dòng chảy” không đều

Tiến sĩ Trần Thị Thu, công tác tại Cục Đầu tư nước ngoài - Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, tính từ khi bắt đầu hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam đến nay, tổng số dự án đầu tư (đang còn hiệu lực) là hơn 7.490 dự án, với số vốn đăng ký đạt hơn 67,3 tỉ USD, trong đó vốn thực hiện đạt gần 30 tỉ USD. Thế nhưng, nếu tính cơ cấu đầu tư theo ngành, thì tỉ trọng vốn FDI đầu tư vào lĩnh vực nông, lâm nghiệp còn thấp và thiếu ổn định. Trong khi ngành công nghiệp nặng chiếm tới 45,5%, công nghiệp nhẹ chiếm 32,7%, thì lĩnh vực nông, lâm nghiệp chỉ chiếm có 7,6%.

Một điều không biết nên vui hay nên buồn, ngay khi dòng vốn FDI khiêm tốn ấy chảy vào địa hạt nông nghiệp - nông thôn, thì tỉ trọng phân bố giữa các vùng miền cũng rất “vênh” nhau, chủ yếu tập trung vào vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và phía Bắc, các tỉnh vùng sâu, vùng xa tỉ trọng rất thấp. Cụ thể, số vốn thực hiện tại các tỉnh thuộc vùng Đông Nam bộ chiếm 61,6%, khu vực Đông Bắc bộ 7,1%, đồng bằng sông Hồng 5,3%, Tây Nguyên 5,6%, khu vực Tây Bắc chỉ có… 0,4%! Đáng chú ý, mặc dù có tới 42 quốc gia, vùng lãnh thổ tham gia đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, nhưng chủ yếu là các nhà đầu tư đến từ châu Á. Trong đó, dẫn đầu về nguồn vốn FDI thực hiện là Đài Loan (thuộc Trung Quốc) với 19%, Thái Lan 12%, Pháp 12%, Xin-ga-po 8%... Tiến sĩ Lê Văn Minh, Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN-PTNT) đánh giá: Chúng ta vẫn chưa có khả năng thu hút các nhà đầu tư tại một số nước, khu vực có tiềm năng, thế mạnh to lớn về nông nghiệp như Mỹ, Ca-na-đa, Ô-xtrây-li-a, các nước châu Âu (trừ Pháp). Điều này phần nào phản ánh cơ cấu chung về đối tác đầu tư, đồng thời cũng thể hiện khả năng vận động, xúc tiến đầu tư của Việt Nam trong lĩnh vực này còn hạn chế.

Cần phải nói rằng, ngay khi đã “dũng cảm” bỏ vốn vào địa hạt nông nghiệp, nông thôn, nhiều nhà đầu tư nước ngoài đã cầm lòng vì… trái đắng. Thực tế, nhiều dự án triển khai rất chậm, thậm chí đang trong tình trạng kinh doanh thua lỗ; tỷ lệ dự án bị giải thể trước thời hạn khá cao so với các lĩnh vực đầu tư khác (khoảng hơn 30% so với mức bình quân chung là 20%). Hiệu quả đầu tư cũng chưa phát huy đầy đủ tiềm năng, thế mạnh của nước ta trong lĩnh vực này. Đơn cử trong lĩnh vực trồng trọt và chế biến nông sản, các nhà đầu tư mới chỉ tập trung khai thác tiềm năng, nguồn lực sẵn có về đất đai, lao động, thiếu những dự án tạo giống cây, giống con mới, triển khai nuôi, trồng, chế biến các loại rau, quả xuất khẩu có hàm lượng kỹ thuật cao, chất lương tốt, phù hợp với điều kiện Việt Nam.

Các nhà đầu tư thiếu mặn mà?

Hiện nay, nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp chủ yếu được thực hiện dưới hai hình thức là doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100 % vốn nước ngoài. Trong đó, hình thức 100% vốn nước ngoài chiếm tới 77,4%, liên doanh chiếm 22,1% và hợp đồng hợp tác kinh doanh chỉ chiếm 0,5% tổng vốn đầu tư. Dù dưới hình thức nào thì sự rủi ro là điều có thể xảy ra.

Còn nhớ, cách đây hơn chục năm, Công ty quốc tế Kiên Tài (liên doanh giữa Công ty Nông - Lâm sản xuất khẩu tinh dầu Kiên Giang với hai doanh nghiệp nước ngoài) tiến hành trồng 60.000 ha rừng để làm nguyên liệu giấy. Sau 7 năm hoạt động (đã trồng được gần 23 ha rừng bạch đàn, đào 237 km kênh mương để thau chua, rửa phèn…) nhưng công ty này vẫn phải “thanh lý” trước thời hạn. Nguyên nhân là do địa phương thay đổi quy hoạch sử dụng đất, doanh nghiệp không thể triển khai xây dựng nhà máy sản xuất giấy, tỉnh Kiên Giang cũng không có khả năng di dân để giao đủ đất cho doanh nghiệp. Vụ này, phía Việt Nam phải bồi hoàn cho đối tác nước ngoài gần 10 triệu USD.

Sự kiện trên là một trong nhiều minh chứng về thất bại của dự án đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực nông - lâm nghiệp. Ở tầm vĩ mô, có nhiều nguyên nhân lý giải vì sao các nhà đầu tư nước ngoài không mặn mà với địa hạt nông nghiệp, nông thôn. Trong đó, nhóm nguyên nhân căn bản là những hạn chế liên quan đến môi trường đầu tư. Cho đến nay, hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp vẫn được xem là lĩnh vực có nhiều rủi ro nhất đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Hoạt động này vốn diễn ra ở các vùng nông thôn rộng lớn, điều kiện tự nhiên khó khăn, lệ thuộc nhiều vào thời tiết, sản phẩm mang tính mùa vụ, dễ hư hỏng, thường xuyên bị ảnh hưởng của thiên tai, dịch bệnh… Sản phẩm nông nghiệp thường có tỉ suất lợi nhuận thấp, mức thu nhập không cao. Những dự án sử dụng vốn FDI luôn đòi hỏi nguồn nhân lực có trình độ. Sự yếu kém về chuyên môn, về khả năng sử dụng công nghệ kỹ thuật mới của lao động Việt Nam buộc các doanh nghiệp nước ngoài phải chịu thêm chi phí đào tạo, thuê chuyên gia chuyển giao công nghệ. Bên cạnh đó, kết cấu hạ tầng kinh tế, kỹ thuật ở nông thôn hiện nay rất kém, muốn “đến” với nông dân, các doanh nghiệp buộc phải đầu tư thêm nhiều hạng mục ngoài công trình, chi phí lớn.

Về mặt cơ chế, chính sách, phương thức “mời gọi” đầu tư cũng còn nhiều hạn chế. Theo tiến sĩ Lê Văn Minh, Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn): Chiến lược, định hướng thu hút đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn chưa được xác định một cách rõ ràng; danh mục dự án gọi vốn chưa bao quát hết nhu cầu; thông tin về từng dự án còn sơ lược, thiếu chuẩn xác. Hệ thống pháp luật, cơ chế chính sách đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực này kém hiệu quả và chưa đủ sức hấp dẫn nhà đầu tư. Hệ thống sản xuất, tiêu thụ hàng nông sản còn bất cập, chúng ta chưa thiết lập được mối quan hệ giữa các hộ nông dân với các doanh nghiệp, chưa phát huy hết vai trò của các Hiệp hội theo ngành hàng. Công tác vận động, xúc tiến đầu tư nước ngoài vào nông nghiệp, nông thôn chưa thực sự hiệu quả.

Những yếu tố trên làm cho các nhà đầu tư nước ngoài không mặn mà và sẵn lòng “rót vốn” vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn.

Đã có chiến lược thu hút vốn FDI

Phải ghi nhận rằng, dù chưa tương xứng với tiềm năng, nhưng trong những năm qua, các dự án đầu tư nước ngoài đã góp phần bổ sung nguồn vốn đáng kể cho đầu tư phát triển lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp và nông thôn. Tính đến tháng 6-2007, đã có 758 dự án của nước ngoài (còn hiệu lực) đầu tư vào lĩnh vực này với số vốn đăng ký đạt 3,78 tỉ USD (chiếm 5,6% tổng vốn FDI tại Việt Nam). Trong đó, số vốn thực hiện đạt gần 1,9 tỉ USD (chiếm 6,3%).

Để thu hút mạnh nguồn vốn FDI đòi hỏi phải có những giải pháp đồng bộ, lâu dài. Theo bà Phạm Thị Thịnh, cán bộ Vụ Đăng ký và Thống kê đất đai (Bộ Tài nguyên và Môi trường): Hiện các nhà đầu tư mong muốn ba vấn đề, đó là được nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất từ các tập thể, cá nhân. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thuê đất của hộ gia đình, cá nhân. Mở rộng hơn quyền thế chấp và quyền sử dụng đất cho các đối tác có vốn FDI.

Ông Phan Huy Thông, Phó cục trưởng Cục Trồng trọt (Bộ NN-PTNN) đề xuất: Chính sách hỗ trợ rủi ro là rất cần thiết đối với sản xuất nông nghiệp và hàng nông sản xuất khẩu. Kinh nghiệm từ nhiều nước là phải xây dựng Quỹ hỗ trợ rủi ro (từ nguồn hỗ trợ của Nhà nước, nguồn phụ thu từ xuất khẩu, nguồn đóng góp của các doanh nghiệp…), nhằm hỗ trợ cho người sản xuất, doanh nghiệp xuất khẩu khi gặp rủi ro bất khả kháng về thiên tai, sâu bệnh, thị trường tiêu thụ.

Về vấn đề này, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã xây dựng Chiến lược thu hút và nâng cao hiệu quả đầu tư trực tiếp nước ngoài trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn. Trong đó, định hướng cụ thể đối với từng chuyên ngành, như chế biến nông sản - thực phẩm, chăn nuôi, chế biến thức ăn gia súc, trồng rừng và chế biến gỗ. Hy vọng chiến lược “khơi thông dòng chảy FDI” sẽ góp phần tạo ra một cú hích mới, góp phần thực hiện mục tiêu: đến năm 2010, tốc độ tăng trưởng kinh tế nông thôn đạt bình quân từ 7,5 đến 8%, thu nhập bình quân đầu người gấp 2 lần so với năm 2000.

Giai đoạn 2006-2010, kế hoạch huy động vốn đầu tư phát triển của ngành NN-PTNN là 144.790 tỉ đồng. Trong đó, nguồn vốn FDI chiếm khoảng 11%. Để thực hiện mục tiêu này, cần xây dựng môi trường chính sách vĩ mô, hoàn thiện hệ thống pháp luật, phát triển kết cấu hạ tầng, nguồn nhân lực, khoa học công nghệ, nâng cao hiệu quả công tác vận động, xúc tiến hoạt động đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp và phát triển nông thôn.

(Nguồn Bộ NN-PTNT)

Bài và ảnh: LÊ THIẾT HÙNG