QĐND - 40 năm trước, trên mảnh đất Sầm Nưa thấm đẫm huyền tích của các bộ tộc Lào anh em, có một sân bay mang tên Na Cay làm bằng tranh-tre-nứa-lá đã ra đời. Sân bay ấy, không chỉ góp phần tô thắm truyền thống mối quan hệ hữu nghị đặc biệt Việt Nam – Lào, mà còn in đậm dấu chân những người lính Lữ đoàn Công binh 279 anh hùng, mở ra trang sử vàng huyền thoại về một đơn vị xây dựng các công trình chiến đấu.

 1. Nhân chứng sống của quá trình làm nên sân bay Na Cay ngày ấy là cụ Trần Văn Vược, nguyên Trung đoàn phó Trung đoàn 279 (nay là Lữ đoàn 279). Cụ Vược vẫn nhớ như in những ngày đầu thành lập đơn vị: “Do nhu cầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, ngày Trung đoàn 279 thành lập (12-8-1972) cũng là ngày Trung đoàn tổ chức hành quân đi khôi phục đường 83 từ Vụ Bản (Nam Định) vào Cẩm Thủy (Thanh Hóa). Dưới mưa bom, bão đạn của quân thù, Trung đoàn với những cán bộ, chiến sĩ rất trẻ, còn chưa kịp quen mặt, biết tên nhau vẫn hoàn thành nhiệm vụ rất vẻ vang”.

Đường 83 vừa khôi phục xong, Trung đoàn đã được lệnh đi làm nhiệm vụ quốc tế tại Lào. Thiếu tướng Phùng Thế Tài, Phó tổng Tham mưu trưởng trực tiếp giao nhiệm vụ cho chỉ huy Trung đoàn: “Na Cay thuộc Sầm Nưa là khu căn cứ Trung ương của Cách mạng Lào. Trung đoàn 279 có nhiệm vụ giúp bạn xây dựng một sân bay dã chiến trong thời gian thật ngắn, phải tuyệt đối bí mật”.

Lúc bấy giờ, đường liên lạc giữa Trung ương Đảng ta và Trung ương Đảng bạn chủ yếu thông qua tuyến đường bộ 217. Việc xây dựng sân bay Na Cay có ý nghĩa rất to lớn, giúp cho việc quan hệ, trao đổi chủ trương chiến lược giữa Trung ương Đảng hai nước được thuận lợi. Hiểu rõ điều đó, cùng lúc Đảng ủy Trung đoàn họp ra nghị quyết chuyên đề, phân công Phó Tham mưu trưởng Trần Văn Vược chỉ huy lực lượng trực tiếp làm sân bay, cũng là lúc bộ đội đơn vị nhận lệnh hành quân lên đường.  

Lữ đoàn Công binh 279 thực hành diễn tập cơ động đội hình làm nhiệm vụ bảo đảm cầu đường.

Cụ Vược nhớ lại: Na Cay ngày đó còn nhiều bom mìn của địch, ban ngày lại là mục tiêu đánh phá của địch, chúng tôi phải làm nhà âm để sinh hoạt, xây dựng công sự phòng, tránh ngay tại chỗ. Ngay hôm đầu đến đóng quân, máy bay địch đã thả bom khiến hai chiến sĩ hy sinh nhưng toàn đơn vị không nao núng, nhanh chóng triển khai thi công với trang bị rất thô sơ. Vào mùa đông, thời tiết Sầm Nưa rất khắc nghiệt, ban đêm lạnh buốt xương nhưng buổi trưa nắng như lửa đốt. Chúng tôi vẫn tổ chức tăng gia cải thiện bữa ăn, giữ sức khỏe bộ đội để làm việc 10 giờ mỗi ngày, tổ chức làm nhiều ca, cả ngày lẫn đêm… Có tiểu đoàn, năng suất lao động tăng 40%.

Chỉ sau 2 tháng thi công, thung lũng Na Cay bỗng chốc biến thành sân bay Na Cay khang trang với đầy đủ công trình nhà ga, đường ra, đường vào theo đúng yêu cầu kỹ thuật. Các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước Lào đã nhiệt liệt biểu dương tinh thần lao động – chiến đấu quên mình của Trung đoàn 279 bằng buổi biểu diễn văn công trong một hang đá gần sân bay. Đến nay, đó vẫn là buổi xem văn công lãng mạn nhất mà cụ Trần Văn Vược đã được thưởng thức.

2. Đại tá Nguyễn Thành Đô, Chính ủy Lữ đoàn 279 hiện nay nói rằng: Có lẽ, ngay ngày đầu thành lập đã lập tức lên đường làm nhiệm vụ nên lịch sử của Lữ đoàn là lịch sử cơ động khắp mọi miền đất nước. Lữ đoàn đã tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh với những ngày đêm thần tốc bảo đảm cầu đường cho các đơn vị thẳng tiến vào Sài Gòn, ngay sau đó lại tham gia khắc phục hậu quả sau chiến tranh và 6 năm liên tục đứng trên tuyến đầu xây dựng công trình chiến đấu. Nhiều thế hệ cán bộ, chiến sĩ của Lữ đoàn vừa có niềm vui nhận giấy phép về thăm quê hương, gia đình đã nhận lệnh hủy để tiếp tục lên đường. Hàng trăm công trình mới trên biên giới, hàng nghìn mét hào giao thông, hàng nghìn công sự ẩn nấp và chiến đấu đã được cán bộ, chiến sĩ Lữ đoàn hoàn thành, tạo nên hệ thống công trình phòng thủ vững chắc chạy suốt từ Quân khu 2 đến Quảng Ninh và ra hải đảo. Mồ hôi, xương máu và nước mắt của người chiến sĩ công binh 279 đã đổ suốt chiều dài biên giới nhưng dấu ấn đậm nét của Lữ đoàn lại dồn tụ cho 3 năm bền bỉ, kiên cường quai đê, lấn biển ở khu vực Cồn Thoi, góp phần tạo ra khu KT-QP mới ở Ninh Bình.

Đại tá Trần Ngọc Thêm, nguyên Lữ đoàn trưởng kiêm Chính ủy Lữ đoàn bồi hồi: “Ác liệt, hy sinh vì bom đạn tuy ở Cồn Thoi không có như ở biên giới hoặc trong thời kỳ chiến tranh nhưng khó khăn, gian khổ thì không tả nổi. Nhiều cán bộ chưa từng tỏ ra sợ khó, sợ khổ trong chiến tranh nhưng cũng dao động đôi chút khi nhận nhiệm vụ ở Cồn Thoi. Ngày chúng tôi ra thực địa, Cồn Thoi là một bãi bồi ngập nước rộng mênh mông, nối với biển cả bao la gió reo, sóng vỗ. Nổi lên trên bãi bồi chỉ là những đoạn đê nham nhở, một số lều lán xiêu vẹo, dấu tích của một công trường mà thành quả lao động bị thiên nhiên tàn phá…”.

Thế nhưng, vượt lên hết thảy, bộ đội 279 lại tiếp tục đắp đường, đắp đê. Nhiều đoạn, đường nằm lên bùn non pha cát, độ lún lớn, lại tiếp xúc trực tiếp với thủy triều và sóng biển nên rất khó làm. Lợi dụng thủy triều, cứ đêm về là bộ đội xuất quân thi công, kể cả đêm đông rét buốt. Nước ăn lấy ở con lạch là nước lợ, không đào được giếng. Ốm đau, bệnh tật hành hạ, đơn vị kiên trì, nhẫn nại tìm cách khắc phục. Nhiều đoạn đê bao đã đắp hàng chục nghìn mét khối, bỗng chốc bị sóng bão đánh tan cũng không khiến đơn vị nản chí. Dấu chân người chiến sĩ 279 để lại ở Cồn Thoi hôm nay là dấu chân người lính đã chiến đấu gay gắt với thiên nhiên, với chính bản thân mình để hoàn thành nhiệm vụ. Trang sử của đơn vị còn ghi lại một Nghị quyết chuyên đề của Đảng ủy Lữ đoàn trong những ngày tháng khó khăn đó, xác định: “Hơn lúc nào hết, đảng viên trong toàn Đảng bộ phải là lực lượng xung kích, là đầu tàu kéo cả Lữ đoàn tiến về phía trước”.

3. “Trước đây đã thế, bây giờ càng phải như vậy, cán bộ, đảng viên phải là người gương mẫu, đi đầu thì nhiệm vụ mới thông suốt” – Thượng tá Nguyễn Anh Tuấn, Lữ đoàn trưởng tâm sự như vậy khi dẫn chúng tôi đi thăm một khu vực làm nhiệm vụ của đơn vị. Thời gian này, đang là cao điểm của đợt thi đua đột kích chào mừng 40 năm Ngày truyền thống Lữ đoàn nhưng đơn vị vẫn rất vắng vẻ. “Từ ngày thành lập đến nay, có bao giờ đơn vị được ở tập trung đâu anh, đến bây giờ, bộ đội vẫn phân tán nhiều vùng miền trên cả nước, toàn là vùng sâu, núi cao để làm nhiệm vụ xây dựng công trình quân sự” – anh Tuấn giới thiệu.

Đại úy Nguyễn Hồng Giang, Đại đội trưởng Đại đội 8 (Tiểu đoàn 1), một cán bộ có rất nhiều thành tích trong thi công công trình chiến đấu nhưng lại rất e dè trong phần kể về mình. Giang nói: Thi công xây dựng công trình hầm ngầm chiến đấu dưới những ngọn núi cao trong điều kiện địa chất không ổn định hiện rất khó khăn. Nếu khoan bằng phương pháp gây nổ thì đá núi toác ra không theo khẩu độ như ý. Bộ đội có lúc phải dùng búa chèn để đục thủ công. Đường hầm sâu vào lòng núi, việc hô hấp càng thêm khó. Những lúc đó, cán bộ, đảng viên như Giang phải chui vào đục mẫu. Khi làm sâu vào trong, bộ đội có cảm giác “sợ” quả núi với khối đất đá lẫn lộn sẵn sàng đè sập lên người thì những cán bộ, đảng viên làm trước, vì đó là những người nắm chắc quy định an toàn của đơn vị. Thậm chí, khi cần, cán bộ, đảng viên chia nhau làm cạnh bộ đội. “Cán bộ, đảng viên mà không xông vào việc khó, đừng bao giờ nghĩ đến việc hoàn thành nhiệm vụ” – Giang tâm sự.

Nói rồi, như một người thợ, Giang điều khiển chiếc máy khoan hiện đại Boormer-H252 một cách thành thạo. Bên trong, hệ thống xe hầm, xe cào vỏ âm thầm hoạt động. Thời bình, nhưng những người lính công binh 279, cũng như nhiều đơn vị công binh khác, vẫn hoạt động không ngừng nghỉ.

Bài và ảnh: Đặng Bằng Tương