QĐND - 1. Có lẽ phải dùng đến cụm từ “cuộc trường chinh giữ nước” thì mới phản ánh được đầy đủ sự nhọc nhằn của dân tộc Việt Nam trong suốt dặm dài lịch sử của mình.

Việt Nam nằm ở vị trí chiến lược quan trọng trong bản đồ địa-chính trị, địa-kinh tế của khu vực và thế giới, nên ngay từ buổi bình minh lịch sử của mình, đã phải đứng trước áp lực xâm lăng từ bên ngoài. Trên thế giới, nhiều quốc gia-dân tộc cũng đã phải đấu tranh chống ngoại xâm để bảo vệ độc lập chủ quyền, nhưng có lẽ không có quốc gia-dân tộc nào mà trong lịch sử của mình lại phải tiến hành nhiều cuộc kháng chiến chống ngoại xâm như Việt Nam, hơn thế, lại luôn phải đương đầu với những thế lực cường bạo vào bậc nhất. Chính truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm đã trở thành nhân tố hàng đầu đưa tới sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam-một di sản, một giá trị tinh thần cốt lõi, nổi bật nhất của dân tộc Việt Nam.

2. Trong cuộc trường chinh giữ nước, dù chịu nhiều gian khổ, hy sinh, nhưng dân tộc Việt Nam đã vượt qua tất cả, giữ vững nền độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Giành thắng lợi cuối cùng, nhưng không phải không có những thất bại, như: Thất bại của Hồ Quý Ly và nhà Hồ trong cuộc kháng chiến chống quân Minh đầu thế kỷ XV; thất bại của nhà Nguyễn trong cuộc kháng chiến chống Pháp cuối thế kỷ XIX. Thắng lợi hay thất bại đều có nguyên nhân và đều để lại những bài học lịch sử sâu sắc vẫn còn nguyên giá trị đến ngày hôm nay:

An Dương Vương để mất nước là vì "mất cảnh giác". Có thành cao, hào sâu (thành Cổ Loa), có vũ khí lợi hại (“nỏ thần”), nhưng từ quý tộc đến chúng dân Âu Lạc-tổ tiên ta buổi đầu dựng nước-thì hình như vẫn còn quá “chất phác, hồn nhiên”, mà kẻ thù lại lắm “xảo quyệt, mưu mô”. An Dương Vương chắc phải xé lòng khi rút gươm chém đầu con gái, nhưng đó cũng chính là thời điểm người Việt nhận thức sâu sắc phải làm gì để tồn tại và tiến lên trong một bối cảnh mà xâm lăng từ bên ngoài sớm trở thành áp lực. Chỉ có điều, cha ông ta đã phải trả giá quá đắt cho bài học lịch sử này.

Tái hiện cảnh Thánh Gióng đánh trận tại Hội Gióng Phù Đổng, Gia Lâm, Hà Nội. Ảnh: Thu Thảo.

Hồ Quý Ly để mất nước là vì đã "không nhận thức hết được vai trò của nhân dân". Cuộc cải cách do Hồ Quý Ly khởi xướng vào cuối thời Trần tuy đáp ứng được yêu cầu của lịch sử lúc này, nhưng nó đụng chạm đến nhiều đối tượng, vì thế mà cả khi chuẩn bị và trong khi cuộc kháng chiến chống xâm lược Minh diễn ra, Hồ Quý Ly đã không quy tụ được các tầng lớp nhân dân đoàn kết dưới cùng một bóng cờ cứu nước. Nhưng điều quan trọng hơn là ở chỗ ông đã không nhận ra vai trò quyết định của nhân dân. Đường lối giữ nước của Hồ Quý Ly chủ trương dựa chủ yếu vào quân đội, với đội quân trăm vạn như ông hằng ao ước. Nhưng chính con trai ông-Tả tướng quốc Hồ Nguyên Trừng-lại có nhận thức khác khi nói: “Thần không sợ đánh, chỉ sợ lòng dân không theo”, hay như sau này Nguyễn Trãi tổng kết “Phúc chu thủy tín dân do thủy” (Lật thuyền mới thấy dân là nước). Quân đội là nòng cốt của một nền quốc phòng, nhưng phải là một nền quốc phòng toàn dân mới làm nên sức mạnh chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược.

Nhà Nguyễn để mất nước là vì đã làm cho đất nước trở nên kiệt quệ, lại yếu đuối và hèn nhát trước cuộc xâm lăng của thực dân phương Tây. Nhìn một cách khách quan, có nhiều nguyên nhân dẫn đến thất bại của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp cuối thế kỷ XIX, nhưng rõ ràng, so sánh tương quan lực lượng về kinh tế, về khí tài, thì ta kém Pháp rất nhiều. Tại sao ta yếu? Không thể ngụy biện đơn giản rằng, phương Đông, trong đó có Việt Nam, tránh sao được chủ nghĩa thực dân. Rõ ràng nhà Nguyễn phải chịu trách nhiệm về sự suy yếu của đất nước (sự suy yếu là vì phải huy động nhiều sức người sức của để xây dựng các công trình như kinh thành, lăng tẩm hay để đàn áp các cuộc nổi dậy, nhưng chủ yếu là do chính sách quản lý và phát triển đất nước lạc hậu, bất cập). Đã thế, khi cuộc xâm lăng của thực dân Pháp diễn ra, triều đình nhà Nguyễn lại không thể hiện được quyết tâm kháng chiến, bỏ lỡ nhiều cơ hội, để rồi hèn nhát ký kết các hiệp ước dâng đất nước ta cho Pháp.

Ba lần thất bại với ba bài học lớn, mỗi người dân Việt Nam cần phải ghi nhớ, khắc sâu.

3. Công cuộc bảo vệ nền độc lập dân tộc, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ hiện nay đòi hỏi chúng ta phải có một sức mạnh nội lực đủ để đương đầu với bất kỳ thử thách nào, bất kỳ thế lực nào. Nội lực phải được hiểu bao gồm cả sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần. Chúng ta chỉ có thể bảo vệ được độc lập dân tộc, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ khi chúng ta phát huy được cao độ sự tổng hợp của cả hai nguồn sức mạnh đó.

Sức mạnh tinh thần đó là chủ nghĩa yêu nước được kết tinh từ tình yêu quê hương đất nước; là tình yêu đồng bào với tinh thần “người trong một nước phải thương nhau cùng”; là lòng tự hào về lịch sử vẻ vang và nền văn hóa dân tộc mà ngay từ đầu thế kỷ XV Nguyễn Trãi đã tổng kết: “Như nước Đại Việt ta từ trước/ Vốn xưng nền văn hiến đã lâu”; là tinh thần độc lập dân tộc-mục tiêu tối thượng và nghĩa vụ thiêng liêng của mọi thế hệ người Việt Nam; là ý thức sâu sắc về chủ quyền quốc gia và kiên quyết bảo vệ vững chắc chủ quyền đó với tinh thần “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”; là niềm tự tôn, tự hào dân tộc ngàn năm văn hiến… Truyền thống đó, chủ nghĩa đó được hình thành qua mấy nghìn năm lịch sử, qua hàng nghìn năm dưới ách đô hộ ngoại bang, qua mười mấy cuộc chiến tranh giữ nước lớn nhỏ, được chung đúc thành sản phẩm tinh thần quý giá, trao truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác. Những phức tạp của tình hình trên Biển Đông trong năm qua, khi chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia bị đe dọa, một lần nữa mới thấy, qua những gì mà người Việt Nam biểu thị bằng thái độ và hành động, đã cho cả thế giới thấy rằng, với người Việt Nam thì chủ quyền lãnh thổ quốc gia là thiêng liêng đến như thế nào, rằng người Việt Nam có thể làm tất cả để bảo vệ chủ quyền thiêng liêng đó.

Nhưng chỉ nội lực tinh thần thôi thì chưa đủ. Phải phát huy nội lực đó trong xây dựng để phát triển sức mạnh vật chất. Chủ nghĩa yêu nước phải được “kích hoạt” để biến thành nội lực phát triển, xây dựng một nước Việt Nam hùng mạnh, có đủ sức mạnh vật chất-tinh thần để bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc.

PGS, TS VŨ VĂN QUÂN