Các nhóm tứ tấu ít trình diễn nhạc không lời Việt Nam.

Cuộc hội thảo gần đây của giới âm nhạc về thực trạng và phương hướng sáng tác của nhạc Việt, đề cập vấn đề về cái yếu và cái thiếu trong sáng tác trong đó có nhắc đến sự vắng bóng các sáng tác mới của thể loại Nhạc giao hưởng thính phòng. Theo nhiều nhạc sĩ tham dự buổi hội thảo này nguyên nhân là do người nghe không đủ trình độ để thưởng thức dẫn đến việc không có thói quen, không đủ trình độ thưởng thức, thậm chí chối bỏ, phê phán thiếu công bằng đối với nhạc giao hưởng. Nhận định trên không mới, có nhiều phần thực tế nhưng nói đi thì cũng phải nói lại, phải chăng nhạc sĩ đã “đẩy gánh nặng” có phần… oan cho công chúng.

Quan niệm hẹp

Suy nghĩ người nghe không đủ trình độ để thưởng thức nhạc không lời tồn tại gần như trong giới âm nhạc, cụ thể là người sáng tác, người biểu diễn và cả người tổ chức chương trình nghệ thuật. Một giảng viên của trường đại học uy tín về âm nhạc nói: “Người nghe nhạc thính phòng dường như chỉ chạy theo cái mốt-một cái mốt có vẻ quý tộc. Người hiểu để thưởng thức từ đầu chí cuối một chương trình hòa nhạc hóa ra rất ít”. PGS-TS NS Nguyễn Văn Nam cho rằng người nghe khước từ nhạc không lời, nhạc thính phòng vì “khi nghe một bản nhạc không lời không quen thuộc, lại không được giảng giải về nội dung tình tiết trước, quả thật khó hiểu”. Vâng, đúng là nhạc không lời rất khó hiểu, nhưng có nhiều người vẫn muốn nghe. Điều này nghe có vẻ lạ tai với nhiều nhạc sĩ nhưng thực tế là như vậy. Dù ít kiến thức âm nhạc, dù không để đọc nổi bè nọ, gam kia, không hình dung ra tư tưởng chủ đề… thì âm nhạc cũng chỉ là một loại hình nghệ thuật được người nghe “cảm thấy thích” nhiều hơn là tư duy, bóc tách ra từng miếng, từng múi để mà xét đoán xem hay vì đâu, vì sao hay…

Xin dẫn ra một ví dụ ở ngay chính nước ta từ sau khi miền Bắc được giải phóng khoảng cuối thập niên 1950, các nhạc sĩ cách mạng của chúng ta đã sáng tác ra những bản giao hưởng nổi tiếng: Giao hưởng số 1-Quê hương của Hoàng Việt; Thành đồng Tổ quốc của Hoàng Vân; Khúc nhạc mở đầu-Tình yêu và thắng lợi của Nguyễn Đình Tấn; Chim Ưng-độc tấu violon và dàn nhạc của Đàm Linh, thơ giao hưởng Từ tuyến đầu Tổ quốc của Chu Minh… Đó là chưa kể đến dàn nhạc tham gia dựng ca kịch: Núi rừng hãy lên tiếng của Ri-mưn-san, Ép-ghê-nhi Ô-nhê-ghin của Tchai-cốp-xky, La Tranviata của Véc-đi, Ruồi Trâu của Xpa-đa-ve-xki, Cô Sao Người tạc tượng của Đỗ Nhuận, Bên bờ sông Krông-pa của Nhật Lai… Những bản giao hưởng, ca kịch này đã được biểu diễn nhiều lần, nhiều năm và được công chúng miền Bắc nhiệt tình đón nhận. Điều đó chứng tỏ không phải thị hiếu hay trình độ của người nghe không đủ để thưởng thức nhạc không lời.

Cung chưa đáp ứng đủ cầu

Ngay bên lề hội thảo, tôi đã có cuộc trò chuyện với nhạc sĩ Cát Vận-người có hai bản nhạc không lời mà tôi vô cùng yêu thích là Tình yêu của biểnMùa thu. Nhạc sĩ Cát Vận nhận xét: “Phải nói cho đúng rằng hiện nay các sáng tác nhạc không lời còn rất ít. Những năm gần đây không thấy có tác phẩm mới thật sự nổi bật”. “Thưa nhạc sĩ, ngay bây giờ tôi có thể ngân nga những giai điệu trong bài Tình yêu của biển cho nhạc sĩ nghe, tôi thấy nhạc không lời rất đẹp và dễ hiểu. Tại sao các nhạc sĩ lại tự nhận xét nhạc không lời khó hiểu?”. “Thật ra những bản nhạc của tôi mới chỉ thuộc dạng bán cổ điển, có lẽ vì thế mà nghe dễ vào hơn chăng?”

Thế tại sao các nhạc sĩ không sáng tác bán cổ điển? “Tiền đâu? Ai dựng cho? Ai nghe cho? Và quan trọng nhất… bao giờ mới nổi tiếng?”-Nhạc sĩ gạo cội Nguyễn Đức Toàn bức xúc, ông cho rằng “đầu ra” của tác phẩm bắt đầu từ việc dựng nhạc, để các bản nhạc có thể phát ra được âm thanh, nhạc sĩ phải bỏ ra từ vài chục triệu đến cả trăm triệu đồng, chẳng có đơn vị nào chịu đứng ra thu âm, dựng nhạc, đấy là một cái khó. Nhưng cái khó nhất vẫn là tư tưởng của các nhạc sĩ, viết nhạc không lời vừa khó nổi tiếng vừa mất nhiều tiền đầu tư chính là một vật cản lớn đối với nhạc sĩ. Nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn đề nghị lập câu lạc bộ nhạc không lời để các nhạc sĩ trong hội nhạc sĩ Việt Nam ngồi nghe với nhau và giúp nhau dàn dựng. Không biết ý tưởng về câu lạc bộ nhạc không lời của ông đến bao giờ mới thành hiện thực, chỉ biết trong thời điểm hiện tại giới nhạc sĩ có tâm lý không mặn mà với nhạc không lời, và mọi người chưa dễ vượt qua cái tâm lý đó.

Có thêm một lý do nữa để nhạc không lời chưa đi vào được trào lưu thưởng thức, đó là sự kém cỏi của giới truyền thông, của những “cửa sổ âm nhạc” những cơ quan có trách nhiệm phổ biến, cung ứng âm nhạc. Nghệ sĩ Phạm Hồng Hải-phó giám đốc Nhà hát nhạc vũ kịch Việt Nam kể lại trong lần biểu diễn của dàn nhạc giao hưởng ASHIYA trong chương trình biểu diễn tại Việt Nam, nhạc trưởng người Nhật đề nghị đài Truyền hình Việt Nam không phát sóng vì lý do dàn nhạc đánh có vài điểm bị vênh, chưa được ưng ý, song “nhà đài” vẫn phát sóng. Những chuyện như trên không hiếm gặp, thậm chí nhiều bản nhạc không viết phần phối khí, hòa âm. Công chúng bình thường không thể phát hiện ra, nhưng người “có nghề” nghe rất phản cảm. Ông Hải cho rằng điều này đã làm hỏng mỹ cảm của người nghe về nhạc không lời.

Nói gì thì nói, việc thiếu và yếu trong sáng tác nhạc không lời khiến công chúng khó lòng tiếp cận đến “tinh hoa” của âm nhạc. Phải chăng trách nhiệm đó trước hết vẫn thuộc về nhạc sĩ với cái tài, cái tâm, cái tầm của mình.

Bài và ảnh: Đông Hà