Nông dân huyện Chư Mgar, Đắc Lắc hái cà phê
Xuất khẩu cà phê niên vụ 2006-2007
được dự báo có bứt phá lớn. Sản lượng và kim ngạch xuất khẩu vượt xa dự kiến của Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam (Vicofa). Với kết quả đã đạt được từ đầu vụ đến nay, chắc chắn niên vụ này kim ngạch xuất khẩu cà phê nước ta sẽ vượt con số 1 tỷ USD. Đây được xem là thành công bước đầu của ngành sản xuất cà phê nước ta khi gia nhập WTO.

Được cả mùa, được cả giá

Theo tổng hợp của Vicofa, từ đầu niên vụ (1-10-2006) đến hết 31-3-2007, cả nước đã xuất khẩu được 615.845 tấn cà phê, với giá bình quân 1.350 USD/tấn, đạt kim ngạch 831 triệu USD. So với cùng kỳ niên vụ cà phê (2005-2006), tăng 51,7% về sản lượng và tăng 130% về kim ngạch xuất khẩu. Trong cả niên vụ (2005-2006) cả nước ta xuất khẩu được 775 nghìn tấn, với tổng kim ngạch 826 triệu USD. Như vậy, chỉ trong vòng 6 tháng đầu niên vụ này, kim ngạch xuất khẩu cà phê đã vượt tổng kim ngạch xuất khẩu cả niên vụ (2005-2006) tới 5 triệu USD. Theo ông Vân Thành Huy, Chủ tịch Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam thì sản lượng cà phê cả nước niên vụ này sẽ lên đến 930 nghìn tấn. Ông Vân Thành Huy cũng khẳng định: Niên vụ này, cả nước ta sẽ xuất khẩu khoảng 900 nghìn tấn cà phê, với tổng kim ngạch đạt hơn 1,2 tỷ USD.

Phân tích những thành công trong xuất khẩu cà phê từ đầu niên vụ đến nay cho thấy, trước hết, kim ngạch xuất khẩu cà phê nước ta tăng cao là do giá cà phê trên thị trường thế giới ổn định ở mức cao. Nếu như trong cùng kỳ niên vụ trước giá xuất khẩu bình quân chỉ đạt 970 USD/tấn, thì đến niên vụ này giá xuất khẩu bình quân 1.350 USD/tấn, tăng tới 39%. Về chênh lệch giữa giá cà phê trong nước so với giá trên thị trường thế giới (tại sàn giao dịch Luân Đôn) đã giảm, từ mức 200 USD/tấn những niên vụ trước đây xuống còn 100 USD/tấn trong niên vụ này. Như vậy người sản xuất cà phê đã bớt thiệt hại, khi giá cà phê trong nước khá sát giá trên thị trường thế giới. Mức chênh lệch giảm phần nào đó còn khẳng định chất lượng cà phê nước ta đã có những cải thiện hơn và được thị trường thế giới đánh giá đúng.

Nếu như những năm trước đây, người trồng cà phê luôn phải chịu nghịch lý "được mùa thì mất giá", "mất mùa lại được giá", thì đến niên vụ này lại "được cả mùa và được cả giá", nên thu nhập của nông dân giữ ở mức khá cao. Theo phân tích của Vicofa, người trồng cà phê đã nhanh nhạy hơn trong việc nắm bắt thị trường, khá am hiểu cung cầu của thị trường thế giới, biết chủ động điều tiết lượng cà phê bán ra, để tránh rủi ro. Rõ ràng, trình độ hiểu biết thị trường đã giúp nông dân tỉnh táo và đưa ra những quyết định đúng. Đây có lẽ là thành công bước đầu của nông dân nước ta trong năm đầu hội nhập WTO.

Mặt hàng cà phê có giá cao, ổn định tạo ra cơ hội thuận lợi để các tỉnh có sản lượng cà phê lớn, nhất là các tỉnh Tây Nguyên tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu. Nguồn thu từ mặt hàng cà phê góp phần rất lớn trong phát triển kinh tế-xã hội, nâng cao thu nhập, cải thiện mức sống của nhân dân vùng Tây Nguyên - địa bàn chiếm hơn 80% diện tích và sản lượng cà phê của nước ta. Mức sống người sản xuất cà phê ở Tây Nguyên tăng cao rõ rệt.

Vẫn còn những việc phải làm

Đạt được thành tựu lớn trong xuất khẩu, song điều mà lâu nay Vicofa cũng như các nhà khoa học lo ngại, đó là vấn đề chất lượng cà phê nước ta vẫn còn thua kém. Mục tiêu nâng cao chất lượng cà phê xuất khẩu của nước ta vẫn chưa đạt được. Nước ta dẫn đầu thế giới về sản lượng cà phê Robusta. Như vậy chúng ta hoàn toàn có lợi thế trong điều tiết sản lượng bán ra nhằm góp phần chủ động về giá cả nếu như chúng ta biết coi trọng việc nâng cao chất lượng sản phẩm cà phê xuất khẩu. Lâu nay, vẫn tồn tại nghịch lý là mặc dù sản lượng cà phê Robusta của nước ta lớn nhất thế giới, nhưng giá bán lại luôn thấp hơn cà phê cùng loại của các nước khác, mà nguyên nhân chính là do chất lượng cà phê của ta còn thua kém. Phần lớn diện tích cà phê hiện có ở nước ta do nông dân quản lý và sản xuất, điều kiện về cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất, cũng như trình độ hiểu biết, khả năng áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật của người dân còn thiếu và yếu, nên việc nâng cao chất lượng cà phê ngay từ khâu sản xuất còn chuyển biến chậm. Phần đông người dân vẫn còn duy trì thói quen thu hái cà phê xanh, vì thiếu nhân công và sợ bị hái trộm. Nghiên cứu của Viện Khoa học Kỹ thuật nông - lâm nghiệp Tây Nguyên, khẳng định việc thu hái cà phê xanh không những làm cà phê kém chất lượng mà còn làm giảm sản lượng vườn cây: Nếu thu hái cà phê chín, chỉ cần 850 quả cà phê tươi đã được 1kg; nhưng khi hái cà phê xanh phải từ 900 đến 920 quả mới đủ 1kg.

Tiến sỹ Lê Ngọc Báu, Phó viện trưởng Viện Khoa học Kỹ thuật nông - lâm nghiệp Tây Nguyên cho rằng, một phần nguyên nhân của tình trạng thu hái cà phê xanh lại thuộc về những nhà thu mua cà phê. Trên thực tế từ năm 2001, Nhà nước đã ban hành Tiêu chuẩn Việt Nam, nhưng trong lĩnh vực thu mua cà phê rất ít đơn vị áp dụng tiêu chuẩn này. Lâu nay, trên thị trường cà phê trong nước, người thu mua và các đơn vị xuất khẩu vẫn áp dụng phương pháp truyền thống để đánh giá chất lượng cà phê, đó là xác định tỷ lệ hạt đen, hạt vỡ, tạp chất và hàm lượng nước, lấy đó làm căn cứ phân loại và định giá. Việc áp dụng những tiêu chuẩn mang tính truyền thống này không chỉ lạc hậu so với thế giới, mà vô hình trung tiếp tay cho người dân thu hái cà phê xanh, và hậu quả là tỉ lệ cà phê bảo đảm chất lượng thấp. Tiến sỹ Lê Ngọc Báu cho rằng, quá trình chăm sóc, thu hái và sơ chế cà phê của người dân quyết định chất lượng cà phê, vì vậy người dân là đối tượng cần hướng tới của mục tiêu nâng cao chất lượng cà phê. Cần tuyên truyền, phổ biến, thậm chí bắt buộc người sản xuất cà phê áp dụng những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng cà phê. Muốn vậy chúng ta phải nghiêm túc áp dụng tiêu chuẩn chất lượng đã được Nhà nước ban hành.

Làm thế nào để nâng cao chất lượng cà phê, khẳng định thương hiệu cà phê Việt Nam trên thị trường cà phê thế giới đòi hỏi còn nhiều việc phải làm. Có việc thuộc về người dân trực tiếp sản xuất cà phê; có việc thuộc về các đơn vị thu mua, chế biến và xuất khẩu cà phê và có cả những việc ở tầm vĩ mô thuộc về quản lý của Nhà nước. Theo các chuyên gia kinh tế, nước ta đã đạt sản lượng cà phê Robusta lớn nhất thế giới, nên việc cần làm hiện nay không phải là vấn đề nâng sản lượng hay mở rộng diên tích cà phê, mà là đầu tư xây dựng thương hiệu, nâng cao chất lượng sản phẩm và coi trọng xuất khẩu cà phê đã qua chế biến, phát huy hơn nữa vai trò của Nhà nước trong quản lý chất lượng cà phê xuất khẩu./.

Bài và ảnh: Kiều Bình Định