Trước mặt tôi là người thương binh dáng vẻ rắn chắc, nhưng khắc khổ. Nước da, khuôn mặt đen sạm, nhưng đôi mắt thật sáng. Ông là thương binh Bùi Hữu Trân, hiện sinh sống tại phường Xuân Phú, thành phố Huế.

Tham gia cách mạng từ khi 13 tuổi, ngày ấy ông được tuyển vào đội tự vệ đấu tranh giành chính quyền ở phường, xã (1945). Ngày Toàn quốc kháng chiến bùng nổ, do gan dạ, dũng cảm và rất giỏi võ, ông được lựa chọn vào đại đội quyết tử chiến đấu tại khu 6, thành phố Huế. Thời ấy, giặc Pháp và những tên Việt gian luôn “kinh hồn, bạt vía” trước lối đánh giáp mặt, dũng mãnh, mưu trí của một người chiến sĩ người nhỏ, da đen, nhưng nhanh như sóc.

Những năm tháng chống Pháp, khó có thể kể hết được chiến công của ông và đồng đội. Hòa bình lập lại, ông cùng đơn vị tập kết ra Bắc và công tác tại Công an bảo vệ Khu ủy 4 và Công an Nghệ An. Do phục vụ và bảo mật tốt, nên nhiều lần ông được cấp trên khen thưởng. Đặc biệt, năm 1963, người chiến sĩ an ninh Thừa Thiên-Huế trên đất Bắc vinh dự được gặp Bác Hồ. Bác khen ông đánh giặc giỏi, bảo vệ tốt nhân dân, gặp mùa hạn hán lại có nhiều sáng kiến hay giúp đỡ nhân dân. Bác dạy: “Bác mong chú phát huy truyền thống Bộ đội Cụ Hồ, phục vụ Đảng, phục vụ dân tốt hơn nữa”. Hơn 40 năm đã qua, nhưng dường như lời Bác dạy ngày nào vẫn văng vẳng bên tai. Bởi vậy, dù bất cứ làm việc gì, hoạt động ở lĩnh vực nào ông đều hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Trở về với cuộc sống đời thường, người chiến sĩ năm xưa, người thương binh hôm nay vẫn tiếp tục phát huy bản chất tốt đẹp của Bộ đội Cụ Hồ. Ông mê nói chuyện truyền thống cho thế hệ trẻ, ham thích hoạt động văn nghệ-thể thao. Tuy nhiên, điều làm cho mọi người khâm phục lại chính là nghĩa tình thủy chung của ông đối với vợ, với con, với đồng đội, đồng chí. Đầu năm 1980, gia đình ông gặp phải hoàn cảnh đặc biệt thương tâm, vợ và con bị bệnh tâm thần do di chứng của chất độc da cam. Suốt 27 năm qua, ngày nắng cũng như giông bão, cứ sáng sớm, khi con gà cất tiếng gáy báo thức một ngày mới, ông trở dậy dọn vệ sinh và đặt lên bếp nồi cháo cho cả gia đình ăn trong ngày. Gọi là cháo nhưng được nấu một cách thập cẩm một chút gạo tẻ, một ít rau, đậu và cả khoai lang. Xong xuôi mọi việc, ông đánh thức vợ và con dậy, lần lượt tắm rửa cho từng người. Cả nhà ăn sáng bằng thứ cháo “đặc biệt” đó, rồi ông dặn dò vài điều với vợ, con và kéo chiếc xe ra khỏi nhà. Ai thuê việc gì ông cũng làm, không nề hà công việc nặng, nhẹ. Vất vả là thế, nhưng ông luôn tin vào cuộc sống, tin vào những điều tốt đẹp. 27 năm làm “nhiệm vụ” của một “bà vú”, lăn lộn kiếm sống nuôi vợ, chăm con, nhưng chưa khi nào ông than vãn dẫu chỉ một lời. Ông nói: Đó là ân nghĩa vợ chồng, tình cảm cha con, là đạo lý ở đời, còn sức khỏe thì mình còn phải cáng đáng...

Trước lúc chia tay, bất chợt tôi nghe vẳng tiếng rên khẽ. Ông tất tả bước vào nhà trong, khẽ nâng đầu vợ dậy, âu yếm lau mặt cho bà.

NGUYỄN THỊ THỌ