Lương Công Xuân (ngoài cùng, bên phải) với các cán bộ tỉnh đội Bắc Giang bàn về việc làm móc giỏ sợi cho bà con nông dân.

Cuộc sống nhiều lúc bế tắc đến nỗi anh phải ngửa mặt lên trời than thở: Trời hỡi, sao lại bất công với ta vậy! Nhưng với khát vọng sống của người lính đã giúp anh vươn dậy, vượt qua những hoàn cảnh éo le, để từ một người tay trắng trở thành chủ một doanh nghiệp mang lại công ăn việc làm, hạnh phúc cho bà con nông dân và những người tàn tật.

Anh là Lương Công Xuân, thương binh nặng hạng 1/4 ở Yên Dũng, Bắc Giang.

Phải sống

Anh tỉnh dậy sau 7 ngày chìm đắm trong hôn mê. Mặt bị băng kín nên phía trước là khoảng tối đen. Toàn thân đau đớn, tê dại. Anh không biết mình đang ở đâu, chỉ ngửi thấy mùi thuốc tê nồng nồng và đâu đó, có tiếng reo lên khe khẽ: “Tỉnh rồi”.

Tỉnh rồi. À, nghĩa là mình mới trải qua một giấc ngủ dài. Không phải ngủ, mà chết đi sống lại. Anh tự nhủ như vậy. Và trong tiềm thức, cuộc đời anh hiện lên như cuốn phim...

Quê anh ở xã Tân Liễu, một trong những xã nghèo của huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Năm 1980, vừa tròn 20 tuổi, đang là Phó bí thư chi đoàn, Xuân xung phong đi bộ đội, để lại mẹ và 5 đứa em lít nhít phía sau. Cấp trên biên chế anh vào lữ đoàn công binh N.75, đào tạo chuyên khoa 1 về bom mìn. Đầu năm 1982, Xuân được điều về Bộ tham mưu Quân khu 1, phụ trách tổ bom mìn phục vụ các công trình ở Lạng Sơn. Cho đến một ngày, khi đang thực hiện nhiệm vụ, không may một quả mìn phát nổ hất tung anh từ độ cao 20 mét xuống đất...

Đó là ngày 5-5-1982.

Mấy ngày sau khi tỉnh lại, các bác sĩ viện Quân khu 1 cho Xuân biết rằng, anh bị thương rất nặng: Xương hàm, xương cuốn vỡ, mặt bị biến dạng; mắt trái hỏng, ruột bị cắt 30 phân; chân trái vỡ bánh chè và điều nguy hơn là có thể phải cưa vì không thể khôi phục, còn nếu cứ để thế thì nguy hiểm đến các bộ phận khác. Xuân đau đớn, bàng hoàng. Anh còn quá trẻ, đang còn khao khát sống, bị thương nặng thế lại thêm mất chân thì sau này làm gì để kiếm sống? Sau một đêm mất ngủ, sáng hôm sau anh năn nỉ với các bác sĩ: “Các anh ơi, các anh cố gắng giúp em giữ lại những cái có thể... nhất là cái chân nhé. Quê em nghèo lắm, không có chân làm sao mà cày ruộng được!”. Sự quyết tâm của Xuân đã thuyết phục các bác sĩ. Thế là 2 tháng trời vừa điều trị, vừa nghiến răng chịu đau, mặc cho bắp chân bị thối rữa, Xuân ra sức tập luyện. Tập đi đến nỗi đau ngất, tỉnh dậy lại tập tiếp. Sức vóc trai tráng ngày nào nặng trên 60 cân nay chỉ còn một nửa. Mặc, anh nuôi hy vọng chiếc chân trái vẫn thuộc về thân thể của mình.

Và tuổi xuân đã chiến thắng. Sự kiên trì của đội ngũ bác sĩ và của anh cuối cùng đã chiến thắng. Chân trái, qua nhiều lần phẫu thuật, tuy có ngắn mất vài phân, nhưng đã không phải cắt bỏ. Mừng lắm, anh lại cố tập nhiều hơn để mong sớm hồi phục.

Đó là những tháng ngày dài lê thê trong cuộc đời Xuân. Cuộc sống không đơn giản như anh từng nghĩ. Chiều đến, chống nạng ra ngoài dạo mát, lòng anh nhói đau khi thấy một bóng hồng nhìn lướt qua anh rồi quay mặt đi. Anh biết họ sợ khuôn mặt méo mó, biến dạng của mình. Anh không trách người đời. Về phòng, anh soi mình trong gương. Trời ơi, khuôn mặt chữ điền chất phác ngày nào giờ méo mó trông đến dữ tợn. Về quê có ai dám nhìn khuôn mặt ta không? Anh ngã vật xuống giường...

Xuân kể lại, đã có lúc những ý nghĩ tiêu cực xuất hiện trong đầu anh. Nhưng sau 3 tháng nằm điều trị ở bệnh viện, khi anh về đoàn an dưỡng 159 thì những ý nghĩ trên biến mất. Bởi vì ở đó, nhiều đồng chí còn bị thương nặng hơn Xuân nhiều. Có đồng chí không còn đôi mắt, có người không còn chân, tay. Có anh đang nói chuyện vui đùa bỗng đùng đùng la hét rồi nhảy xuống hồ nước. Nhưng khi trở lại bình thường, họ lại tổ chức vui chơi, lại ca hát. Không ai có than vãn, than thân trách phận. Đó là một tập thể không lành lặn, nhưng đầy khát vọng sống, khát vọng của những người lính từng trải qua chiến tranh, qua cái sống và cái chết, giờ cho dù thân thể mang đầy thương tích vẫn tiếp tục sống có ích. Xuân tự thấy xấu hổ cho mình. Anh nghĩ, mình tuy bị thương tật tới 71%, nhưng đỡ hơn các anh là còn một mắt, đôi tay và đôi chân tuy không lành lặn nhưng cũng đi lại được. Còn bộ mặt của mình... Rồi mọi người sẽ hiểu khi tâm của mình trong sáng. Phải sống thôi, Xuân nghĩ. Hãy sống có ích cho đời. Và anh làm đơn xin trở về quê hương...

Quê nghèo nuôi chí lớn

Trở về quê hương thôi. Về với mẹ ta thôi!

Đó như là mệnh lệnh thúc giục Xuân.

Nhà Xuân nghèo lắm. Bố công tác xa, anh trai đầu vẫn tại ngũ, hầu như một mình mẹ gánh gồng nuôi 5 em nhỏ và phụng dưỡng hai ông bà ngoại. Xuân không cam lòng để mình là người chất thêm gánh nặng trên vai mẹ.

Tân Liễu quê Xuân rất nghèo. Xã thuần nông, nhưng lúa chỉ làm được có 6 tháng. Thời gian còn lại trong năm, người dân phải đi làm thuê, đi chợ khắp nơi, ai có chút đồng vốn thì mở lò đóng gạch. Không có nghề nào khác. Thương con, bố Xuân xin cho anh chân bảo vệ một công ty ở Hà Nội. Nhưng Xuân trả lời bố rằng, Nhà nước đã cho con một khoản tiền đủ sống, con phải thử sức mình làm kinh tế xem đến đâu. Bắt chước mọi người, Xuân cũng đóng gạch. Rét buốt, đôi chân thương tật nay suốt ngày nhào gạch trong giá rét lại thêm nhức nhối. Đóng được gạch rồi, không có tiền để thuê thợ vào lò, Xuân tự học cách đắp lò, vào lò, cách đốt gạch... Những ngày đó, bao nhiêu tiền đều tập trung vào cho việc làm gạch, đến nỗi nhà phải ăn sắn thay cơm. Nhưng chí đã quyết, anh một mình lăn lộn giữa mưa rét để hy vọng kiếm tiền nuôi mẹ và các em.

Nhưng đốt lò thứ nhất do kỹ thuật kém than đóng không chất lượng, vào lò ướt nên gạch chỉ chín có 30%. Không nản, lại vào lò tiếp lần thứ hai. Lần này đỡ hơn, nhưng gạch chín cũng chỉ được 50%. Bao nhiêu tiền dành dụm đã hết sạch. Anh nghĩ, nếu mình cứ cố mãi thế này thì có lẽ chết theo đất luôn. Đành phải ngừng lại, cắn răng bán thốc bán tháo số gạch chín đi, rồi vay thêm tiền của một người bạn từng đồng ngũ, Xuân lên đường tìm kiếm việc làm phù hợp với mình.

Phải lên đường, phải rời quê hương yêu dấu để đi tìm nghề phù hợp. Nhưng đi đâu bây giờ? Nghe nói ở miền Nam làm bánh mì giỏi, có thể chế biến từ bột sắn, mà sắn ở quê anh không thiếu, Xuân mừng lắm, nhảy tàu vào Nha Trang. Nhưng vào đến nơi thì thấy mọi việc không đơn giản như anh nghĩ. Lại trở ra Bắc, xuống Hải Dương định theo nghề làm bánh đậu xanh, lúc đó bắt đầu phát triển mạnh. Anh đến một ông chủ xin làm thuê vừa để kiếm ăn vừa để học hỏi. Nhưng làm bánh đậu xanh phải nhiều vốn, mà điều đó với anh không có khả năng. Đang lúc bí bách thì may quá, Xuân gặp một anh thương binh cụt chân làm nghề thợ may. Thương bạn cùng cảnh ngộ, anh khuyên Xuân nên theo nghề của anh, một nghề phù hợp với những người có cơ thể không còn lành lặn.

Cuộc đời là như vậy. Nó là sự công bằng và không phụ lại một ai có chí, có niềm tin. Lời khuyên của bạn đối với Xuân đã trở thành ngàn vàng và sau này khi đã thành đạt, anh luôn biết ơn lời khuyên chân tình đó. Về nhà, lại vay ít tiền, anh mua chiếc máy may rồi vào trường dạy nghề học, sau đó xuống Hà Nội học lớp cắt may của một ông thầy nổi tiếng. Vốn sáng dạ và khéo tay, anh luôn đứng đầu lớp học. Học 21 ngày, biết 21 kiểu quần áo, trả tiền đầy đủ xong, anh xin phép thầy về quê hành nghề...

Tháng ngày khốn khó

Mùa xuân năm 1986, tại bến sông Thương của xã Tân Liễu, người ta bỗng thấy một chiếc lều được dựng lên, bên trong treo vài bộ quần áo. “Ông chủ” chiếc lều là một chàng trai chân đi tập tễnh, khuôn mặt méo mó dữ tợn nhưng khi cười trông rất hiền lành. Đó là Lương Công Xuân.

Tại chiếc lều bên bến sông quê đó, Xuân bắt đầu lập nghiệp. 3 năm sau, số phận mỉm cười khi đưa đến cho anh một người con gái tốt bụng để trở thành người bạn đời của anh. Cô gái ấy tên Tân, làm việc ở phòng thống kê huyện. Quen nhau trong một buổi xem phim, rồi bạn bè giới thiệu, vun vào, hai người nhanh chóng đến với nhau khi họ có chung những sở thích, những khao khát vươn lên và sự đồng cảm, sẻ chia.

Nhưng cuộc đời đâu chỉ có toàn màu hồng. Đang sống trong những tháng ngày hạnh phúc thì một hôm kẻ gian vào lấy hết những vốn liếng mà đôi vợ chồng trẻ tích lũy được: Chiếc máy khâu, bàn là, xe đạp... và ngay cả con lợn 10 cân mà anh phải vay tiền để mua làm vốn chúng cũng cuỗm mất. Tay trắng lại hoàn tay trắng, trong khi đó tiền vay ngân hàng đã đến kỳ phải trả. Xuân ứa nước mắt, thương mình ít mà thương vợ thì nhiều. Anh đã từng trải, đã đi đây đi đó nên có sự hiểu đời nhất định. Còn vợ anh là một cô gái mới học trung cấp xong, nhìn cuộc sống đang toàn điều tốt đẹp, liệu rồi có vượt qua được khó khăn này không.

Lo cho vợ thế, nhưng chính chị mới là người đứng vững và động viên Xuân không nản chí. Là cán bộ nhà nước, chị vẫn tìm cách đi buôn bán thêm để kiếm tiền phụ giúp anh, để chia sẻ với anh trong cơn hoạn nạn. Tháng 11 năm 1989, vợ chồng anh sinh đứa con trai đầu lòng. Đưa vợ đến bệnh viện, trong túi anh chỉ còn 7 nghìn đồng, trong nhà không có gì để bán. Trả tiền viện phí, đón vợ về anh chỉ đủ tiền mua vài lạng thịt nạc nấu bát mì cho vợ ăn. Nhà cấy được sào lúa, chủ nợ đến đòi nợ không có bèn gặt luôn. Bí bách quá, anh ngửa mặt lên trời than: “Cuộc đời sao bất công thế này!”. Đêm nằm cạnh vợ, cầm bàn tay gầy guộc của chị, anh ứa nước mắt: “Phải làm lại thôi, em ạ! Anh không thể để mẹ con em sống thế này được. Phải làm lại thôi!”.

Nhưng muốn làm ăn lớn thì không thể ở mãi bến sông quê. Phải mạnh dạn đầu tư. Vay được 1 triệu đồng từ họ hàng và bạn bè, vợ chồng Xuân ra thị trấn Yên Dũng thuê nhà, mua lại máy may, tiếp tục lập nghiệp.

Lại một cuộc sống mới vô cùng vất vả, gian nan.

Khi đó, khách hàng đã quen với các cửa hàng may mặc cũ cả rồi. Xuân là người mới đến, mặt mũi lại không được ưa nhìn. Nhưng anh tin tưởng vào tay nghề của mình. Anh xác định cần phải cạnh tranh bằng chất lượng, bằng mẫu mã, sản phẩm của mình đi đến đâu là biên giới đến đó. Nghĩa là, người ta đã vào may hiệu mình thì dứt khoát sẽ trở lại may tiếp. Buổi sáng, anh chọn những bài hát cách mạng cho phát to trên loa để mọi người hiểu ông chủ hiệu nhà may Xuân là người thế nào. Dần dần, những người đi chợ quen dần với khuôn mặt của Xuân. Họ không còn ghê sợ nữa. Họ hiểu, phía sau khuôn mặt đó là trái tim nhân hậu, khát khao làm việc có ích cho đời. Rồi mọi người đến với hiệu may của anh ngày một đông.

Khi đã có chút vốn liếng, Xuân nghĩ ngay đến câu nói của ông cha: Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh. Anh nghĩ, cuộc đời binh nghiệp của mình không còn, thì phải phấn đấu trở thành một thợ giỏi. Tay nghề đã vững thì “hữu xạ tự nhiên hương”, mọi người sẽ đến với mình thôi. Nghĩ thế, anh gom góp vốn liếng, xuống trường chuyên dạy cắt may ở phố Đinh Tiên Hoàng, Hà Nội học may cao cấp: com-plê, áo dài. Học 3 tháng, sát hạch hẳn hoi, được thầy đánh giá tốt. Nhưng không vừa lòng với mình, Xuân lại tiếp tục sang một nhà may nổi tiếng ở phố Hàng Trống vừa làm thuê vừa học tiếp cho đến khi thành tài mới thôi.

Trở về quê hương, Xuân mở hiệu may chuyên com-plê, áo dài. Nhưng những năm 1991-1992, huyện Yên Dũng quê anh nào ai đã dùng com-plê, ngay cả cán bộ huyện đi tỉnh họp cũng không có mà mặc. Phải làm đẹp từ cán bộ huyện, Xuân nghĩ. Anh mời những cán bộ mỗi lần lên tỉnh họp đến hiệu may anh là quần áo không mất tiền. Rồi anh hướng dẫn cho họ cách ăn mặc như thế nào là đẹp, là lịch sự. Chiều đến, anh diện com-plê đến các công sở, các nơi vui chơi để đánh thức ý thức ăn mặc đẹp cho mọi người. Sau đó, cán bộ huyện lên tỉnh họp, thấy nhiều người mặc com-plê nên bắt đầu nhận thức ra và đến đặt hàng hiệu may Xuân.

Tìm ra cái mới, nắm bắt nhanh thị trường, khẳng định uy tín của mình bằng chất lượng và mẫu mã đẹp, Xuân bắt đầu ăn nên làm ra. Anh mua thêm máy khâu, tuyển thêm thợ và Nhà may Xuân trở thành một thương hiệu nổi tiếng trong vùng.

Có thế và lực, Xuân chuyển hướng chiến lược mới với suy nghĩ: Làm giàu không chỉ cho riêng mình, mà phải làm việc gì đó có ích cho xã hội.

Bài và ảnh: HỒNG SƠN

(Còn nữa)