 |
|
Bên tấm bằng Tổ quốc ghi công liệt sĩ Ngô Văn Huynh, cụ Lưu Thị Luyến, mẹ liệt sĩ (ngồi thứ hai, bên phải) kể với các con, cháu và bà con làng xóm về người con trai cả của mình đã dũng cảm chiến đấu, hy sinh vì Tổ quốc. |
Trận đánh ở Bàu Điều
Hôm đó là ngày 5 tháng 6 năm 1968. Do bị quân ta đánh mạnh, gây thiệt hại nặng ở tỉnh Tây Ninh, bọn Mỹ vội vã điều một đoàn xe tăng khoảng 30 chiếc, có máy bay và pháo binh yểm trợ, từ căn cứ Đồng Dù tới cứu nguy cho đồng bọn đang bị tấn công.
Tiểu đoàn 2 thuộc Trung đoàn 268 Quân giải phóng (khu Sài Gòn-Gia Định) được giao nhiệm vụ chặn đánh đoàn xe này. Biết đoàn xe của bọn Mỹ sắp chạy qua ấp Bàu Điều, xã Phước Hiệp, huyện Củ Chi, tiểu đoàn 2 nhanh chóng tổ chức một lực lượng hỏa lực mạnh do tiểu đoàn phó Mai Văn Hiệu chỉ huy, bí mật chốt tại ấp. Trong số cán bộ, chiến sĩ được điều động tham gia đội hỏa lực chính của tiểu đoàn, có tiểu đội trưởng Ngô Văn Huynh-một tay súng chống tăng dũng cảm, mưu trí và gan dạ. Là tổ trưởng tổ hỏa lực của đại đội 2, mang súng B41, Ngô Văn Huynh từng tham gia một số trận đánh tại vùng “Tam giác sắt”, góp phần cùng đồng đội diệt nhiều xe tăng và lính bộ binh Mỹ.
Đúng như dự đoán, khoảng 8 giờ sáng, đoàn xe tăng Mỹ hung hăng chạy ngang qua ấp Bàu Điều, lọt vào trận địa phục kích của Quân giải phóng. Các chiến sĩ ta ém trong công sự, bình tĩnh đợi chúng dẫn xác đến. Khi đoàn xe vừa lăn xích tới đúng tầm bắn, tổ hỏa lực ở mũi chặn đầu do đại đội phó đại đội 2 Phạm Hùng Ca chỉ huy bất ngờ nổ súng. 3 chiếc xe tăng trúng đạn B40 và B41 bốc cháy, gục tại chỗ. Những chiếc khác luống cuống lùi xa và cụm lại bắn chống trả. Từng tốp máy bay Mỹ gầm rú, thay nhau trút bom xăng, bom phạt xuống khu trận địa của quân ta để mở đường cho xe chạy. Các chiến sĩ ta vẫn bám chắc công sự, không để một xe nào của chúng chạy tiếp.
Nửa giờ sau, tưởng Quân giải phóng không thể trụ vững qua cuộc ném bom hủy diệt của Mỹ, đoàn xe của chúng liều lĩnh xông lên. Lập tức, các súng chống tăng của quân ta nhả đạn. Những khối lửa trùm lên xe giặc. Thêm 2 chiếc nữa bị thiêu rụi. Bọn Mỹ lại cho lùi xe, gọi máy bay giội bom và pháo binh bắn yểm trợ. Cả trận địa rung chuyển và mịt mù khói lửa. Vừa ngớt đợt ném bom mới, 10 chiếc xe tăng Mỹ hùng hổ chạy tới. Đợi chúng đến thật gần, Ngô Văn Huynh cùng các chiến sĩ trong đội hỏa lực chính của tiểu đoàn và các tổ “chặn đầu”, “khóa đuôi” từ công sự bật dậy, dùng súng B40, B41 bắn cháy thêm 4 xe nữa. Những tên Mỹ từ trong xe nhảy ra cũng bị chiến sĩ ta diệt gọn.
Cuộc chiến đấu diễn ra quyết liệt, hết đợt này đến đợt khác, suốt từ sáng đến chiều. Các chiến sĩ ta đếm được 12 xe tăng Mỹ bị cháy nằm ngổn ngang trên đường và dưới ruộng. Hai chiếc máy bay lên thẳng vũ trang của chúng cũng bị bắn rơi. Báo chí Mỹ-ngụy ở Sài Gòn đưa tin, trong “ngày đen tối” đó, tại Bàu Điều có tới 50 lính Mỹ bị chết, chưa kể những tên bị thương. Chúng buộc phải hủy bỏ cuộc hành quân cứu nguy đồng bọn ở Tây Ninh.
Tiến công và chiến thắng
Trong trận đánh Mỹ ở Bàu Điều, các cán bộ, chiến sĩ tiểu đoàn 2 Quân giải phóng chiến đấu rất kiên cường, dũng cảm, lập công xuất sắc. Một số cán bộ, chiến sĩ ta hy sinh anh dũng, trong đó có tiểu đội trưởng Ngô Văn Huynh, một tấm gương tiêu biểu.
Ngô Văn Huynh trực tiếp cùng đội hỏa lực chính nổ súng đúng lúc, liên tiếp bắn cháy xe tăng Mỹ. Mặc dù bị thương, anh vẫn không rời vị trí, luôn sát cánh với đồng đội chiến đấu, đẩy lùi các cuộc tấn công của giặc. Giữa lúc đánh trả đợt phản kích cuối cùng của bọn Mỹ, anh Huynh bị thương nặng ở chân, không thể cơ động di chuyển được, nên bị sa vào tay giặc.
Bắt được Ngô Văn Huynh, bọn Mỹ tưởng tìm ra cách gỡ “thể diện” cho quân đội Hoa Kỳ vừa bị Quân giải phóng nện đòn đau. Chúng vội đưa anh về phía sau đoàn xe. Mặc các vết thương trên người anh chưa kịp băng bó, máu ra ướt đẫm, bọn Mỹ đẩy anh tới vệ đường, rồi xúm lại la hét và chĩa súng vào anh, bắt phải khai “những bí mật của Việt Cộng”. Nhưng chúng chẳng moi ở anh được điều gì. Thấy khó có thể khuất phục người chiến sĩ Quân giải phóng, chúng lại giở trò “tâm lý chiến” quen thuộc. Bọn chúng gọi mấy người phiên dịch mang theo máy ảnh, máy ghi âm đến, rồi đưa ra lá cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Tên sĩ quan Mỹ nói với anh:
- Chỉ cần anh xé lá cờ này hoặc giẫm chân lên cờ, anh sẽ được sống. Nếu không, anh phải chết. Anh hãy chọn đi!
Ngô Văn Huynh ôm trước ngực lá cờ mặt trận nửa đỏ, nửa xanh, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh và quắc mắt đáp lại:
- Đây là cờ cách mạng, cờ chính nghĩa của quân và dân miền Nam đoàn kết chống Mỹ. Là chiến sĩ Quân giải phóng, tôi không bao giờ làm những điều các người muốn!
Bọn Mỹ lúng túng giật lại lá cờ từ tay anh và kinh ngạc trước khí phách của người chiến sĩ giải phóng. Tên sĩ quan Mỹ tỏ vẻ dịu giọng, hỏi anh Huynh:
- Đến bây giờ, chúng tôi vẫn không hiểu, khi quân đội Mỹ xung trận, bom đạn trút xuống thật khủng khiếp, tại sao các anh không rút chạy mà vẫn nằm im trong công sự, đợi chúng tôi đến gần rồi xông lên? Các anh không sợ chết?
Anh Huynh mỉm cười và bình tĩnh trả lời:
- Quân giải phóng là quân đội của nhân dân, chiến đấu chống xâm lược nên chỉ biết tiến công và chiến thắng. Chỉ có những kẻ mang đạn bom đi gây tội ác mới run sợ trước cái chết!
Tên sĩ quan Mỹ tái mặt. Hắn nhún vai, lắc đầu rồi lại hỏi:
- Anh có biết, quân Bắc Việt các anh vào miền Nam tức là đi “xâm lược” nước “Việt Nam cộng hòa”?
Anh Huynh nhìn thẳng vào mặt hắn, nói rành rọt:
- Nước Việt Nam là của dân tộc Việt Nam chúng tôi. Đánh giặc, giữ nước, giành độc lập, tự do là nghĩa vụ của mọi người Việt Nam yêu nước, không phân biệt miền Nam hay miền Bắc-anh lớn tiếng-Chính các người mới là kẻ xâm lược đất nước Việt Nam chúng tôi. Quân Mỹ phải cút đi!
Tức tối, run sợ trước thất bại và những lời lên án đanh thép của anh Ngô Văn Huynh, cuối buổi chiều hôm ấy, trước khi kéo nhau rút chạy trở lại căn cứ Đồng Dù, bọn Mỹ hèn hạ nổ súng sát hại anh.
Ngô Văn Huynh, người tiểu đội trưởng trẻ của trung đội 2, đại đội 2, tiểu đoàn 2 (tiểu đoàn mang tên “Cát Bi” của thành phố Cảng Hải Phòng anh hùng trong đội hình của Trung đoàn 268, khu Sài Gòn-Gia Định ngày ấy) đã nêu cao tinh thần kiên quyết tiến công chiến thắng quân thù trong mọi tình huống và ngã xuống giữa tuổi hai mươi tràn đầy sức sống.
Kiên trung, bất khuất
Đã gần 40 năm kể từ ngày tiểu đoàn 2 Quân giải phóng chiến thắng giặc Mỹ ở trận Bàu Điều và ngời sáng tấm gương hy sinh, bất khuất của tiểu đội trưởng Ngô Văn Huynh trên Đất Thép.
Năm nay-năm 2007, cũng vào đầu mùa mưa, nhân kỷ niệm 60 năm Ngày thương binh-liệt sĩ, người viết bài này trở lại thăm gia đình liệt sĩ Ngô Văn Huynh ở xóm Đồn Riêng, thôn Tĩnh Hải (còn gọi là thôn Toàn Thắng), xã Hòa Nghĩa, huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng. Đồn Riêng trước đây là xóm chợ nghèo nằm heo hút giữa vùng đất chua mặn ven biển, bây giờ đang hình thành một khu phố với những ngôi nhà tầng, nhà vườn kiểu mới bên đường Phạm Văn Đồng (đường từ Cầu Rào tới khu du lịch Đồ Sơn).
Cụ Ngô Văn Tuất, 86 tuổi, bố liệt sĩ Ngô Văn Huynh, đã qua đời. Cụ Lưu Thị Luyến, 79 tuổi, mẹ liệt sĩ vẫn còn khỏe và đang ở với vợ chồng người em của anh Huynh. Cụ òa lên khóc khi nhận ra người khách về thăm cụ cũng là một cựu chiến binh từng chiến đấu ở mặt trận Sài Gòn-Gia Định trong kháng chiến chống Mỹ và biết chuyện anh Huynh đánh giặc.
Cụ Lưu Thị Luyến kể, hai cụ sinh được bảy người con, gồm sáu trai, một gái. Anh Huynh là con cả. Trong gia đình, Ngô Văn Huynh là người con hiếu thảo, người anh mẫu mực. Ở trường học, anh là học sinh học giỏi, chăm ngoan và đoàn viên thanh niên tích cực. Cũng như nhiều bạn bè cùng lứa tuổi, năm 1967, theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, Ngô Văn Huynh rời ghế trường phổ thông cấp 2, tình nguyện nhập ngũ, lên đường vào Nam chiến đấu, góp phần chống Mỹ, cứu nước. Anh hy sinh, để lại nỗi tiếc thương lớn và là niềm tự hào của gia đình, họ tộc, bạn bè và bà con làng xóm.
Cụ Luyến còn nhớ, từ sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, một số anh em đồng đội của liệt sĩ Ngô Văn Huynh ở miền Nam và miền Bắc đã về thăm cụ và gia đình. Họ đều là thương binh. Trong số đó, có cựu chiến binh Phạm Hùng Ca, chủ nhiệm Câu lạc bộ truyền thống kháng chiến Tiểu đoàn Cát Bi tại thành phố Hồ Chí Minh, người từng chỉ huy tổ hỏa lực ở mũi chặn đầu đoàn xe tăng Mỹ tại Bàu Điều năm xưa. Các anh kể lại với cụ và mọi người trong gia đình cụ về tinh thần chiến đấu, hy sinh của liệt sĩ Ngô Văn Huynh thật xúc động, tự hào.
Tấm “Bằng Tổ quốc ghi công” liệt sĩ Ngô Văn Huynh do Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký ngày 21 tháng 11 năm 1973, được anh Ngô Văn Đệ, em ruột của liệt sĩ treo trang trọng ở gian giữa ngôi nhà rộng, phía dưới đặt bát hương. Cụ Luyến và cả gia đình chỉ tiếc, trong nhà hiện không còn tấm ảnh nào của anh Huynh để treo nơi thờ cúng. Cách đây hơn 30 năm, trận ngập lụt do bão biển và mưa lớn đã làm hư hỏng nhà cửa và nhiều đồ đạc của gia đình cụ, trong đó có tấm ảnh liệt sĩ Ngô Văn Huynh và “Giấy chứng nhận Huân chương Chiến công Giải phóng” của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng anh về thành tích diệt xe tăng Mỹ.
Nguyện vọng lớn nhất của cụ Luyến và gia đình từ lâu vẫn là mong tìm được hài cốt anh Huynh. Mấy chục năm qua, các con cháu cụ và đồng đội của anh Huynh kiên trì đi lại trên chiến trường xưa, cùng với bà con ấp Bàu Điều ở Củ Chi cố công tìm kiếm, nhưng vùng Đất Thép là nơi từng bị xe tăng, xe bọc thép, xe ủi và bom đạn Mỹ nhiều lần cày xới nát tan, việc tìm hài cốt liệt sĩ còn gặp khó khăn. Thấu hiểu nỗi lòng cụ và gia đình, với nghĩa tình đồng đội sâu đậm, các cựu chiến binh của tiểu đoàn 2-tiểu đoàn Cát Bi-vẫn ngày đêm trăn trở về công việc thiêng liêng ấy.
Nhớ thương người con trai yêu quý, cụ Lưu Thị Luyến thường động viên con cháu hãy sống, học tập và làm việc thật tốt theo lời dạy và tấm gương đạo đức của Bác Hồ, xứng đáng với liệt sĩ Ngô Văn Huynh, với sự quan tâm chăm sóc của Đảng bộ, chính quyền, nhân dân địa phương và với truyền thống cách mạng của quê hương anh hùng.
Bài và ảnh: KIM TOÀN