QĐND - Trong chuyến công tác về Thanh Hóa mới đây, chúng tôi được trò chuyện với những người từng một thời đi qua chiến tranh, đang mang trong mình chất độc da cam/đi-ô-xin... Kỳ lạ thay, những người này không nói nhiều về nỗi đau của chính mình, không đề xuất hay "đòi hỏi" điều gì đó cho riêng họ, mà điểm chung trong những lời tâm sự thấm đẫm nước mắt kia là tình yêu bao la và những ước mơ giản dị dành cho những đứa con vô tội...

1. Con đường đê dài thăm thẳm bên dưới là dòng kênh nhỏ được phủ một màu tím biếc của những cánh bèo, dẫn chúng tôi đến thăm gia đình vợ chồng cựu chiến binh Nguyễn Xuân Lự và vợ là bà Nguyễn Thị Lí ở xã Mỹ Lộc, huyện Hậu Lộc (Thanh Hóa). Không kịp rót nước mời khách, nước mắt người mẹ đã bắt đầu rơi. Ôm lấy đứa con trai ngây dại, mắt vô hồn đang nhìn ra sau khung cửa sổ, bà nghẹn ngào:

- Vết thương nào rồi cũng lành, nhưng vết thương da cam thì không thể... tại sao?

 Vốn là những chiến sĩ mật mã cơ yếu, từng tham gia chiến dịch A Lưới (Quảng Trị) năm 1969, trở về hậu phương sau năm 1975, ông bà xây dựng gia đình với nhau. Niềm hạnh phúc tưởng sẽ được nhân lên khi hai người biết tin sắp có con, nhưng niềm vui ấy không trọn vẹn khi bà Lí sinh người con đầu lòng có một cơ thể yếu ớt, da trắng bệch, chân tay quắp queo. Bởi thế, khi Nguyễn Thành Chung ra đời cũng là lúc gia đình vắng bóng tiếng cười. Người mẹ khổ sở, hằng đêm khóc thầm, thương con và không hiểu do đâu con mình lại chịu số phận bất hạnh từ khi sinh ra. Sau này bà mới biết: Cái thứ sương mù trắng xóa, bụi phơ phơ như phấn lại là thứ chất độc đi-ô-xin mà đế quốc Mỹ rải trắng trong những năm chiến tranh trên mảnh đất Quảng trị mà ông bà đã từng sống và chiến đấu với kẻ thù. Biết được như vậy, nên ông bà quyết định không sinh con nữa...

Bà Nguyễn Thị Lí bên đứa con bị nhiễm chất độc da cam.

Sinh năm 1976, nhưng nhìn Chung không khác nào một đứa trẻ. Con 36 tuổi cũng là từng ấy năm ông bà sống trong đau khổ vì thương con. Không đau đớn sao được khi hơn nửa đời người phải nhìn thấy con mình nửa tỉnh nửa dại. Lúc bình thường đôi mắt Chung vô cảm, nước dãi chảy ròng và luôn đưa tay vào miệng để mút. Khung cửa sổ bằng gỗ cũng đã bị Chung cắn nham nhở. Lúc lên cơn, Chung còn đập phá, đánh cả những người thân trong gia đình. Những khi như thế, ông bà bắt buộc bấm bụng cho con uống thuốc ngủ mà lòng đau như cắt.

Đã bao lần, bà Lí đưa con đi khám hết bệnh viện này đến bệnh viện khác chỉ mong điều may mắn, thần kỳ sẽ đến với con. Thế nhưng khoa học tiến bộ giúp bà hiểu được rằng: Chẳng thuốc nào có thể xóa hết đi-ô-xin và những biến chứng mà nó gây ra cho Chung. Cũng bởi thế mà năm tháng qua đi, ông bà chỉ biết động viên nhau, nuốt nỗi đau vào trong, dành hết tình thương và nghị lực để chăm sóc, bù đắp cho con. Ngoài thời gian chăm con, ông Lự tham gia công tác địa phương giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn hơn mình, còn bà tranh thủ nuôi bầy gà, trồng thêm luống rau... Mặc dù cuộc sống còn nhiều vất vả, với đồng lương hưu cùng số tiền trợ cấp ít ỏi và nỗi lo sợ mỗi lần con trở bệnh, nhưng khi Chung biết giơ tay ra đón món quà nhỏ từ ai đó, hay đưa ánh mắt hiền lành nhìn người thân, thì trong sâu thẳm ông Lự, bà Lí vẫn nuôi những hy vọng dẫu rất mong manh!

Chia tay mái ấm nhỏ bé này, nhìn cây pháo hoa yếu ớt ngoài sân đang cố vươn lên khoe những bông pháo sắc đỏ trong nắng, chúng tôi thầm mong cho nỗi đau của ông bà dần vơi đi, mong cho Chung vượt lên số phận để sống tiếp... Dẫu biết phía trước vẫn còn đó những nỗi đau!

2. Chúng tôi tiếp tục tìm đến gia đình bác Vũ Văn Dắt ở thôn Đồng Bồng, xã Hà Tiến, huyện Hà Trung (Thanh Hóa). Người đàn ông nhỏ thó, mặc bộ quần áo bộ đội đã ngả màu đang nhặt gạo trước sân. Ngồi bênh cạnh ông là cô con gái trên chiếc xe lăn cần mẫn đọc báo cho bố nghe... Chứng kiến hình ảnh ấy, chúng tôi không khỏi xót xa, xúc động.

Theo chân bác Dắt vào căn nhà nhỏ thó không có tài sản gì giá trị ngoài chiếc máy vi tính được đặt gọn gàng sát cửa ra vào. Bác Dắt vừa mời chúng tôi uống nước vừa nói:

- Mặc dù gia đình khó khăn, nhưng tôi vẫn tích cóp, tiết kiệm mua cho cháu Duyên một bộ máy vi tính để cháu nó được học tập như chúng bạn... Tội nghiệp con bé!

Những lúc vợ vắng nhà, bác Dắt cáng đáng thêm việc nhà và chăm sóc cô con gái tật nguyền.

Sớm mồ côi cả bố và mẹ, năm 1963, bác hăng hái tham gia vào bộ đội thuộc Sư đoàn 304 (Quân đoàn 2). Đến năm 1964, bác tham gia chiến đấu ở chiến trường Tây Nguyên. Năm 1968 khi chiến dịch Mậu Thân kết thúc, bác trở về và tổ chức đám cưới với người con gái cùng quê. Lần lượt 7 đứa con ra đời là lần lượt bác chứng kiến 3 đứa con của mình bị mất do ảnh hưởng của chất độc da cam. Những đứa con còn lại cũng không tránh khỏi "bản án" đi-ô-xin. Người con trai đầu của bác năm nay ngoài 40 tuổi, lấy vợ đã lâu nhưng giờ mới có con, nhưng đau đớn thay đứa cháu nội khi chào đời cũng mang dáng hình dị dạng và không có tai... Thương con, cháu, bác Dắt khuyên vợ theo các con vào Nam để tiện chăm sóc cho đứa cháu nội.

Nhìn hình dáng như đứa trẻ 15 tuổi, ít ai nghĩ rằng Duyên sinh năm 1984. Khi ra đời, đôi chân Duyên đã bị dị dạng, việc đi lại khó khăn nên mọi sinh hoạt đều do bố mẹ chăm sóc. Biết con gái không có khả năng đến trường như các bạn, hoàn cảnh gia đình lại nghèo khó, bác Dắt quyết tâm dạy con học ở nhà. Đến nay, nhờ sự chăm sóc và dạy dỗ của bố, Duyên đã có thể đọc sách, viết chữ rất đẹp, em hát hay và ngâm thơ rất giỏi. Khi tôi hỏi về mơ ước lớn nhất của gia đình, đưa hai tay lau những giọt nước mắt, bác Dắt chia sẻ:

- Em nó đã tự mày mò học và biết cách sử dụng máy vi tính, tôi mong con tôi được nhận vào Trung tâm dạy nghề của tỉnh hoặc một nơi nào đó phù hợp để cháu có thể vừa học vừa làm, từng bước tự lập... Tôi và vợ nay đã già, sợ lúc trái gió trở trời không thể chăm sóc cho con được nữa!

Bài và ảnh: Ngọc Huấn