QĐND - Chị Phan Thị Thanh con gái Liệt sĩ, Anh hùng LLVT nhân dân Phan Văn Viêm và gia đình chị từ lâu đã trở thành thành viên thân thiết của Hội truyền thống những chiến sĩ Công an Thái Bình chi viện cho tiền tuyến.
Mỗi năm một lần gặp mặt, lần nào Hội cũng “điều” bằng được gia đình chị đến dự. Cũng như mọi năm, buổi gặp mặt năm 2011 này, khi chị vừa bước lên bục phát biểu là cả hội trường lặng đi vì xúc động.
Khác với những lần trước kể về những kỷ niệm với bố, lần này chị kể về tấm gương của người mẹ quá cố - bà Đỗ Thị Rốt, thôn Hống, xã Thụy Ninh, huyện Thái Thụy (Thái Bình). Chị nói:
- Thưa các bác, các chú, hôm nay các bác, các chú cho phép cháu kể lại mấy kỷ niệm nhỏ về mẹ cháu. Người mẹ mà đức hy sinh đã trở thành chỗ dựa cho bố cháu và là tấm gương cho chúng cháu noi theo.
 |
|
Bà Đỗ Thị Rốt cùng 2 con: Phan Thị Thanh; Phan Văn Thạnh (đứng bên trái ảnh) trong Lễ đón nhận danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân cho Liệt sĩ Phan Văn Viêm.
|
Chị Thanh kể: "Vào một buổi sáng của năm 1965 bố cháu cứ quanh quẩn hết ra ngõ, lại vào nhà, đến mấy lần rồi mới nói được với mẹ cháu: “Anh xung phong đi B rồi. Em ở nhà trông nom mẹ, các con thay anh nhé?”.
Nghe bố nói thế, mẹ cháu tròn mắt hỏi lại: “Anh xin đi B?”. Bố cháu bịn rịn nói: “Ừ, anh xin đi. Mình là lãnh đạo, chỉ huy phải đầu tàu, gương mẫu… “Giàu vì bạn, sang vì vợ”, em ủng hộ anh nhé…” (bố chị là Trưởng Công an huyện Thụy Anh cũ. NV).
Biết tính bố đã nói là làm, mẹ cháu không hỏi thêm câu nào nữa, chỉ băn khoăn nghĩ, bố là thương binh chống Pháp, bà nội thì già yếu, hai mắt bị lòa, còn mẹ cháu thì thường xuyên đau yếu, 4 chúng cháu lại đều còn thơ dại. Cháu là chị gái lớn nhất khi ấy mới 10 tuổi, em út Phan Thị Thoại, mới hơn một tuổi. Nhà thì nghèo lắm, chỉ lo bố đi B không biết mẹ con sống ra sao…
Ấy vậy mà, mấy ngày sau các bác lãnh đạo công an cấp trên về hỏi bố cháu đi chiến trường có gì khó khăn không, mẹ cháu không hề nói đến khó khăn, một mực động viên bố cháu đi. Sau này cháu mới biết bố cháu vào chiến trường Kon Tum khói lửa, được phân công hoạt động bí mật trong lòng địch.
Lá thư nào gửi về bố cũng thăm hỏi, động viên mọi người trong họ, ngoài làng và không quên dặn mẹ cháu hai điều: Dù phải ăn rau, ăn cháo cũng cố chăm nom bà nội. Mắt bà lòa không nhìn thấy gì, đừng để bà phải đói và cho chúng cháu học hành tử tế…
Nhớ lời bố cháu dặn, mẹ cháu hết mực thương yêu, chăm nom bà nội cháu. Nhiều bữa mẹ phải ăn khoai, ăn sắn nhưng vẫn dành cơm cho bà và chúng cháu. Có lần bà cháu sờ thấy vại hết gạo, thế là đến trưa bà dứt khoát không ăn cơm. Động viên mãi bà cháu cũng không ăn, mẹ cháu ân hận lắm. Từ ấy bao giờ mẹ cháu cũng mượn gạo của hàng xóm để trong vại cho bà cháu sờ thấy, để bà yên tâm là nhà mình còn gạo. Còn việc học hành của chúng cháu, thì mặc dù ban ngày đi làm đồng vất vả, tối nào mẹ cũng kiếm việc rồi ngồi bên cạnh để giám sát chúng cháu học và không bao giờ để chúng cháu phải nghỉ học, phải thiếu giấy, thiếu bút…
 |
|
Bà Đỗ Thị Rốt cùng các con cháu. Ảnh: Gia đình cung cấp, chụp năm 2003.
|
Cháu còn nhớ cuối năm 1967, cả 2 chị em chúng cháu đều bị ốm nặng, nhà lại ở xa bệnh viện, xe đạp không có, mẹ cháu phải cho hai chị em vào hai chiếc thùng, gánh lên bệnh viện huyện khám bệnh… Vậy mà trong những lá thư gửi vào miền Nam cho bố, tuyệt nhiên mẹ không hề phàn nàn, ca thán, mà chỉ động viên bố chịu đựng gian khổ, khó khăn, hoàn thành tốt nhiệm vụ, trở về với vợ con, với quê hương làng xóm. Có lẽ đó chính là nguyên nhân, là động lực và là chỗ dựa giúp bố cháu vượt qua khó khăn. Cháu nghĩ rằng, mỗi một trận đánh, mỗi một chiến công của bố cháu và đồng đội giành được ở chiến trường đều có công lao đóng góp không nhỏ của mẹ cháu, của những người vợ ở hậu phương.
Cũng nhờ có sự chăm nom chu đáo của mẹ cháu, mà cả 4 chị em chúng cháu đều được đi học hết cấp ba, đứa đỗ đại học, đứa đỗ trung cấp, lớn lên có công ăn việc làm ổn định.
Năm 1972, khi cháu đang học ở Trường Trung học Cảnh sát (Bộ Công an) thì nhận được tin bố cháu hy sinh. Cháu nghĩ nếu biết tin dữ này thì chắc mẹ cháu sẽ quỵ ngã, vì mẹ cháu rất yếu, nên đã giấu mẹ, âm thầm cắn răng chịu đựng, lặng lẽ luyện theo chữ của bố để viết thư gửi về cho mẹ mỗi năm một thưa dần, cho đến tháng 4-1976, một năm sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, cơ quan Chính sách Bộ Công an gửi giấy báo tử về, mẹ cháu mới biết bố cháu đã hy sinh từ ngày 29-10-1971. Hôm ấy cháu đã nhận lỗi viết thư giấu mẹ.
Kính thưa các bác, các chú, có lẽ niềm vui lớn nhất của mẹ cháu và chúng cháu là nhờ các bác, các chú, các cấp chính quyền, quân đội, công an hai tỉnh Thái Bình và Kon Tum… đã tìm được hài cốt của bố cháu đưa về quê sau 45 năm xa cách. Hôm tìm được hài cốt của bố, chúng cháu thấy bố đã bị kẻ thù chôn chung với hai liệt sĩ khác đó là: Anh hùng Liệt sĩ Nguyễn Văn Hoàng (tức Lê) quê ở Quảng Ngãi và Liệt sĩ Trần Thị Hạnh, quê ở Thành phố Đà Nẵng. Cả ba người đã bị địch dùng dây thép và dây điện trói lại với nhau và chôn tại xã Vinh Chung, thành phố Kon Tum.
Ở thành phố Kon Tum bây giờ có một con phố mang tên Phan Văn Viêm, chính là con phố mang tên bố cháu. Chúng cháu tự hào về bố cháu thì càng kính trọng, khâm phục tấm gương hy sinh lớn lao của mẹ cháu. Mẹ cháu là hậu phương, là điểm tựa của bố con chúng cháu...".
Đỗ Văn Điều, nguyên cán bộ Công an Thái Bình chi viện vào An ninh Quy Nhơn, Bình Định từ năm 1972 đến 1977.